Mục tiêu kiểm soát lạm phát được ưu tiên hơn bao giờ hết

0:00 / 0:00
0:00
Do tác động tiêu cực từ cuộc chiến ở Trung Đông, giá bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam tăng 2 lần liên tiếp trong vòng 2 ngày với mức tăng kỷ lục. Theo PGS-TS. Lê Xuân Bá, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, mục tiêu kiểm soát lạm phát được ưu tiên hơn bao giờ hết.
PGS-TS. Lê Xuân Bá, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

PGS-TS. Lê Xuân Bá, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Theo ông, xăng dầu tăng giá mạnh trong thời gian ngắn sẽ tác động ra sao tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số?

Do giá xăng dầu trên thị trường thế giới tăng quá sốc vì bị ảnh hưởng từ cuộc chiến ở Trung Đông, nên chỉ trong vòng 2 ngày (5/3 và 7/3), Bộ Công thương buộc phải cho phép tăng giá bán lẻ xăng dầu với mức tăng kỷ lục. Việc xăng dầu tăng giá đột ngột chắc chắn ảnh hưởng tới kiểm soát lạm phát và mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm nay.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số, có ý kiến cho rằng, phải chấp nhận lạm phát ở mức độ nào đó. Tôi không đồng ý với quan điểm hy sinh lạm phát để đổi lấy tăng trưởng. Tăng trưởng cao mà lạm phát cũng tăng tương ứng thì đời sống người dân không được cải thiện, hay nói cách khác là người dân không được thụ hưởng thành quả tăng trưởng kinh tế.

Xăng dầu thường chiếm 3,6-4,0% trong rổ hàng hóa tính CPI. Ảnh: Đức Thanh

Xăng dầu thường chiếm 3,6-4,0% trong rổ hàng hóa tính CPI. Ảnh: Đức Thanh

Vậy làm thế nào kiểm soát được giá bán lẻ xăng dầu trong nước, qua đó kiểm soát lạm phát như mục tiêu Quốc hội đặt ra?

Xăng dầu chiếm 3,6-4,0% trong rổ hàng hóa tính CPI. Xăng dầu tăng giá tác động trực tiếp lên CPI, tác động gián tiếp qua cước vận tải hàng hóa và hành khách; giá lương thực, thực phẩm (do chi phí logistics); vật liệu xây dựng; dịch vụ ăn uống, thương mại...

Phải kiểm soát được lạm phát, không đánh đổi lạm phát lấy tăng trưởng kinh tế. Lạm phát kéo dài dẫn đến hậu quả vô cùng lớn do người dân không còn niềm tin vào đồng nội tệ VND, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài cũng không tin vào VND, khi đó làm sao có thể khuyến khích người dân bỏ tiền ra đầu tư, làm sao có thể thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Rất mừng là Chính phủ đã can thiệp kịp thời với việc ban hành Nghị định 72/2026/NĐ-CP sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng xăng dầu, nguyên liệu sản xuất xăng dầu và sản phẩm dầu mỏ về mức 0% từ ngày 9/3/2026 đến ngày 30/4/2026. Sau thời điểm này, tùy vào diễn biến trên thị trường thế giới sẽ có điều hành cụ thể.

Ngoài thuế nhập khẩu, xăng dầu còn phải chịu thuế giá trị gia tăng, thuế bảo vệ môi trường, thuế tiêu thụ đặc biệt. Tức là còn dư địa để kiểm soát giá xăng dầu không tăng quá sức chịu đựng của nền kinh tế.

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ là khát vọng, mà còn là trách nhiệm để Việt Nam vào danh sách quốc gia có thu nhập trung bình cao và thu nhập cao. Gần đây, chúng ta nói tới khái niệm “xác lập mô hình tăng trưởng mới”...

Theo cách hiểu từ xưa đến nay, mô hình tăng trưởng là phương thức huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực toàn xã hội để đạt hiệu quả cao nhất. Trước đây, người ta chia nguồn lực xã hội ra rất nhiều thứ, giờ dồn lại 3 nguồn lực chính: vốn (K), lao động (L) và năng suất lao động tổng hợp (TFP) gồm tất tần tật cái gì tác động đến tăng trưởng kinh tế ngoài K và L, trong đó có 2 cái quan trọng là thể chế và khoa học - công nghệ, bây giờ thêm đổi mới sáng tạo.

Tôi đã tham dự nhiều hội thảo về xác lập mô hình tăng trưởng và nhận ra rằng, khá nhiều chuyên gia cho rằng, chuyển đổi mô hình tăng trưởng là chuyển tăng trưởng GDP từ chiều rộng sang chiều sâu với hàm ý là tăng trưởng GDP của Việt Nam muốn nhanh và bền vững phải dựa vào khoa học - công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực.

Nhận định này không sai, nhưng nếu không có vốn (tiền) thì chẳng có gì cả. Muốn phát triển khoa học - công nghệ phải có tiền để mua, nghiên cứu, sản xuất; muốn có nhân lực chất lượng cao phải có tiền để đào tạo, có cơ sở vật chất để người lao động thực tập. Không có tiền để đầu tư cho khoa học - công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, thì mọi thứ chỉ là ý tưởng. Vốn không phải là quan trọng nhất, nhưng là một trong những yếu tố quyết định trong tăng trưởng 2 con số, trong việc tái cơ cấu, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội.

Theo ông, có thể lấy tiền ở đâu?

Ngoài vốn đầu tư công, từ nay đến cuối nhiệm kỳ Đại hội Đảng XIV và có thể trong vòng 10 năm nữa, vốn đầu tư công mỗi năm sẽ có khoảng một triệu tỷ đồng. Vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vô cùng quan trọng và chúng ta đang có lợi thế để thu hút nguồn vốn này.

Trong 2 tháng đầu năm nay, Việt Nam thu hút thêm 620 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, với số vốn đăng ký 3,54 tỷ USD, tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và tăng 61,5% về số vốn đăng ký.

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, cũng nên có nghị quyết về thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên cơ sở đánh giá kết quả thực Nghị quyết 50-NQ/TW năm 2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 để thu hút nguồn vốn này hiệu quả hơn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực mà Việt Nam khuyến khích.

Hình ảnh người dân xếp hàng dài để mua vàng diễn ra thường xuyên cho thấy, tiền trong dân còn rất nhiều. Bài toán là làm sao khai thác được nguồn vốn này cho phát triển kinh tế.

Còn nguồn tiền rất lớn nữa là kiều hối. Vấn đề là làm sao vừa tăng được lượng kiều hối gửi về, vừa khuyến khích người dân bỏ ngoại tệ ra đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thay vì gửi ngân hàng hoặc bỏ vào két để tiêu dần.

Làm thế nào để huy động các nguồn lực kể trên, thưa ông?

Phải giữ được niềm tin của người dân, nhà đầu tư, doanh nghiệp vào đồng nội tệ. Đó chính là phải kiểm soát được lạm phát. Nếu lạm phát xảy ra với bất cứ lý do gì, đặc biệt trong bối cảnh giá xăng dầu đang nhảy múa, chi phí nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu tăng, thì lợi thế thu hút vốn đầu tư nước ngoài sẽ không còn. Cũng không ai bỏ vốn, bán ngoại tệ, bán vàng lấy tiền đầu tư khi VND bị mất giá.

Giai đoạn 2015-2024, ICOR của Việt Nam dao động khoảng 5,80-6,42, phản ánh nền kinh tế sử dụng nguồn vốn hiệu quả thấp. Nếu hiệu quả sử dụng vốn tăng gấp 2 (ICOR giảm một nửa), thì tiền, vàng, ngoại tệ trong dân không nằm trong ngân hàng hay két sắt, mà sẽ được đổ vào nền kinh tế, vốn nước ngoài cũng tự động tìm đến, thì chúng ta thực hiện được ước vọng tăng trưởng GDP 2 con số.

Tin bài liên quan