Phòng thủ phải là một chu trình liên tục
Sáng ngày 5/8, Hội thảo với chủ đề “AI và Quản trị dữ liệu trong hoạt động ngân hàng” do Ủy ban Công nghệ, Ủy ban Chính sách và Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ thuộc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phối hợp tổ chức đã diễn ra.
Phát biểu khai mạc sự kiện, ông Đào Minh Tú, Phó chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng cho biết, ngành tài chính - ngân hàng toàn cầu đang trải qua một sự chuyển dịch mang tính bước ngoặt: Từ kỷ nguyên số hóa bước sang kỷ nguyên Trí tuệ nhân tạo và xa hơn nữa là hướng tới mô hình Ngân hàng AI (AI-native banking). Tuy nhiên, như các chuyên gia quốc tế và thực tiễn triển khai đã đúc kết: Mối quan hệ giữa AI và dữ liệu là quan hệ hữu cơ hai chiều, biện chứng không thể tách rời. Chất lượng dữ liệu quyết định năng lực tư duy của AI.
Khi dữ liệu bị phân mảnh, thiếu nhất quán hoặc không kiểm soát được nguồn gốc, mô hình thuật toán sẽ kế thừa và khuếch đại các sai lệch cũ, tạo ra các quyết định thiên lệch đầu ra, xâm phạm quyền lợi khách hàng và đẩy ngân hàng đối mặt với rủi ro phi tài chính nghiêm trọng. Chi phí cho một nền tảng quản trị dữ liệu kém hiệu quả là cực kỳ đắt đỏ, tiêu tốn trung bình 30% tổng thời gian làm việc vô ích của tổ chức.
"Chính vì vậy, cộng đồng công nghệ quốc tế đã đưa ra một khuyến cáo mạnh mẽ: Quản trị dữ liệu đã chạm tới 'điểm bùng phát'. Nó có thể là đòn bẩy chiến lược, nhưng cũng có thể trở thành điểm nghẽn duy nhất làm đổ vỡ hoàn toàn tham vọng AI của một tổ chức. Chúng ta bắt buộc phải dịch chuyển tư duy từ xây dựng chính sách tuân thủ thụ động sang mô hình Quản trị dữ liệu tăng cường bằng AI, trong đó quản trị được thiết kế theo cấu trúc ba chiều: Quản trị phục vụ AI, quản trị bằng AI và quản trị đối với chính các mô hình AI”, ông Tú nói.
![]() |
Ông Bùi Gia Hiếu, Giám đốc Trung tâm An toàn thông tin, Khối Công nghệ thông tin MB trao đổi tại Sự kiện |
Chia sẻ thực tế từ hoạt động ngân hàng, ông Bùi Gia Hiếu, Giám đốc Trung tâm An toàn thông tin, Khối Công nghệ thông tin MB cho biết, rủi ro an toàn thông tin trong ngân hàng không còn dừng ở câu chuyện bảo vệ hạ tầng mà đi theo toàn bộ hành trình số của khách hàng. Cụ thể, từ nội dung mạo danh trên mạng xã hội, thiết bị di động, thông tin thẻ bị lộ, cho tới thời điểm giao dịch được xác nhận. Dẫn số liệu của Bộ Công an, ông Hiếu cho biết, thiệt hại do lừa đảo trực tuyến tại Việt Nam năm 2025 vượt 8.000 tỷ đồng.
Ở khu vực tổ chức, doanh nghiệp, khảo sát hơn 5.300 đơn vị của Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia (NCA) ghi nhận 52,30% đơn vị chịu tổn hại do tấn công mạng, dù tổng số cuộc tấn công ước giảm 19,38% so với năm trước. “Đây là một nghịch lý đáng chú ý: số cuộc đánh giảm nhưng khả năng lựa chọn mục tiêu và mức độ gây thiệt hại tăng”, ông Hiếu nói.
Điểm dịch chuyển thứ hai, theo ông Hiếu là ở thiết bị của khách hàng. Hệ thống nTrust của NCA ghi nhận 62.952 loại mã độc mới trên điện thoại di động tại Việt Nam trong năm 2025, trong đó 931 loại giả mạo ứng dụng phổ biến. Khi điện thoại đã trở thành điểm đăng nhập, xác thực và phê duyệt giao dịch, biên bảo vệ của ngân hàng thực tế kéo dài tới thiết bị đầu cuối. An toàn thông tin ngân hàng phải kết nối năng lực bảo vệ hệ thống với phát hiện gian lận và cảnh báo khách hàng, thay vì tối ưu từng mảng riêng lẻ.
Đáng chú ý, sự thu hẹp của time-to-exploit (TTE) cho thấy rõ nhất áp lực về tốc độ. Một nghiên cứu và báo cáo về xu hướng an ninh mạng của Mandiant (đơn vị tình báo mối đe dọa thuộc Google Cloud) quan sát TTE trung bình giảm từ 63 ngày trong giai đoạn 2018-2019 xuống 44 ngày, 32 ngày và chỉ còn 5 ngày vào năm 2023. Google Cloud cũng tổng hợp mức âm 1 ngày cho năm 2024, nghĩa là hoạt động khai thác đã diễn ra trước khi bản vá được phát hành. Dữ liệu năm 2025 đưa chỉ số này xuống mức ước tính âm 7 ngày.
“Con số âm không có nghĩa mọi lỗ hổng đều bị khai thác trước công bố nhưng đủ để bác bỏ giả định rằng đội phòng thủ luôn được bắt đầu tính giờ sau khi hãng phát hành bản vá.
Vá không mất vai trò nhưng không còn là cần gạt duy nhất. Khi bản vá ra đời mà kẻ tấn công đã ở trong hệ thống một tuần, kiểm soát còn lại là rút ngắn thời gian nhìn thấy dấu hiệu, hiểu đúng ngữ cảnh và đưa quyết định tới đúng lớp phòng thủ. Nói cách khác, phòng thủ phải chuyển từ lịch công việc định kỳ sang một chu trình liên tục; máy xử lý tốc độ và khối lượng, con người giữ quyền phê duyệt, ưu tiên và chịu trách nhiệm”, ông Hiếu nói.
Quản trị AI tốt: điều kiện giữ niềm tin của khách hàng
Bà Nguyễn Thu Hạnh, Giám đốc quản trị dữ liệu và AI Techcombank chia sẻ, AI đang tạo ra giá trị thật, Giá trị đo bằng kết quả cho khách hàng - không phải bằng độ phức tạp công nghệ.
Thực tế tại Techcombank, trong hoạt động phòng chống gian lận đã có 100 tỷ đồng đã giữ lại cho khách hàng. Phát hiện bất thường theo thời gian thực với hơn 2.000 lượt cảnh báo. Siêu cá nhân hoá với 20% tỷ lệ chuyển đổi với phương châm đúng giải pháp, đúng thời điểm - trải nghiệm đơn giản hơn. Dữ liệu bổ sung, dưới sự đồng ý của khách hàng giúp 20% khách hàng được duyệt, tiếp cận tín dụng công bằng hơn. Công tác phục vụ và vận hành tăng 50% năng suất khi xử lý tự động; hỗ trợ lực lượng bán trước mỗi cuộc gặp
"Dữ liệu là nhiên liệu - quản trị là phanh. Xe có phanh tốt là xe chạy nhanh nhất. Nhưng quan trọng là nhân rộng giá trị cần niềm tin và niềm tin dựa trên ba trụ cột: Thứ nhất, dữ liệu vững bao gồm chất lượng và vòng đời dữ liệu. Phân quyền, truy vết nguồn gốc và bảo vệ dữ liệu khách hàng; Thứ hai, rủi ro được kiểm soát. Cụ thể, kiểm soát tương xứng mức rủi ro và phân loại rủi ro theo yêu cầu của pháp luật; Thứ ba, minh bạch, giải trình và có đạo đức", bà Hạnh nói và cho biết, quản trị AI tốt không kìm hãm đổi mới - đó là điều kiện để tạo giá trị bền vững và giữ niềm tin của khách hàng.
![]() |
Bà Nguyễn Thu Hạnh, Giám đốc quản trị dữ liệu và AI Techcombank chia sẻ tại Hội thảo |
Trao đổi tại Hội thảo, Luật sư Hoàng Hà, Chuyên gia bảo vệ dữ liệu và quản trị AI, Giám đốc Điều hành Data Protectify cho biết, việc xây dựng một hệ thống quản trị dữ liệu minh bạch, an toàn và có trách nhiệm không chỉ giúp các tổ chức tín dụng đáp ứng yêu cầu của pháp luật mà còn góp phần củng cố niềm tin số của khách hàng, đối tác và thị trường. Những tổ chức xây dựng được nền tảng quản trị dữ liệu minh bạch, an toàn và có trách nhiệm không chỉ đáp ứng yêu cầu tuân thủ mà còn tạo điều kiện để khai thác dữ liệu một cách hiệu quả, phát triển các sản phẩm tài chính số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo một cách bền vững.
Vì vậy, quản trị dữ liệu cần được nhìn nhận không chỉ là một yêu cầu pháp lý mà là một năng lực quản trị chiến lược của mỗi tổ chức tín dụng trong tiến trình chuyển đổi số tại Việt Nam.
“Nói một cách ngắn gọn, cuộc đua ngân hàng số hiện nay không còn là cuộc đua về thuật toán hay quy mô đầu tư công nghệ, mà là cuộc đua về chất lượng dữ liệu, năng lực quản trị toàn diện và niềm tin số từ khách hàng”, ông Đào Minh Tú nhấn mạnh.
Những năm gần đây, Việt Nam tiếp tục thiết lập hành lang pháp lý toàn diện, chặt chẽ và tiệm cận sâu sắc với các tiêu chuẩn quốc tế. Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 thiết lập chủ quyền và tài nguyên dữ liệu quốc gia; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 cùng Nghị định 356/2025/NĐ-CP đưa quyền riêng tư cá nhân và nghĩa vụ chỉ định chuyên gia bảo vệ dữ liệu (DPO) lên tầng luật cao nhất. Đặc biệt, từ ngày 01/03/2026, Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 cùng hệ thống văn bản hướng dẫn chiến lược gồm Nghị định 142/2026/NĐ-CP và Thông tư 05/2026/TT-BKHCN ban hành Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia đã chính thức đi vào cuộc sống.
Luật Trí tuệ nhân tạo đã xác lập một nguyên tắc cốt lõi: AI phục vụ con người, lấy con người làm trung tâm và không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm của con người. Luật đặt ra nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với các ứng dụng AI trong tài chính - ngân hàng - vốn thuộc nhóm rủi ro cao - phải thực hiện đánh giá tác động AI, thiết lập cơ chế giám sát của con người chặt chẽ, kiểm soát dấu hiệu dịch chuyển mô hình và lưu vết nhật ký toàn trình phục vụ công tác hậu kiểm và kiểm toán thuật toán.

