Ông Đào Minh Tú, Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Ông Đào Minh Tú, Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Ngành ngân hàng góp phần tạo dựng nền móng độc lập về tiền tệ, chủ quyền về kinh tế - tài chính của đất nước

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2025) và 74 năm ngày thành lập Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ông Đào Minh Tú, Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước đã có những chia sẻ với truyền thông về đóng góp của ngành ngân hàng trong dòng chảy lịch sử và phát triển của đất nước.

Ông có thể cho biết về những đóng góp của Ngân hàng Nhà nước về điều hành chính sách tiền tệ trong chặng đường lịch sử của dân tộc?

Cùng với quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển đất nước, hoạt động của ngành ngân hàng đã có những đổi mới sâu sắc, nhất là những đổi mới trong lĩnh vực hoạch định, thực thi chính sách tiền tệ. NHNN đã từng bước hoàn thiện, đổi mới các công cụ chính sách tiền tệ, ngày càng tiến gần tới các nghiệp vụ của ngân hàng trung ương hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như xu thế phát triển của nền kinh tế đất nước.

Bên cạnh đó, với một nền kinh tế đang phát triển, trong đó hệ thống ngân hàng là kênh cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế, chính vì thế chính sách tiền tệ đã phát huy vai trò là một trong những chính sách vĩ mô quan trọng của Chính phủ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hướng tới phát triển kinh tế nhanh và bền vững.

Xuyên suốt chặng đường lịch sử trên, NHNN luôn kiên định, nhất quán mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, coi đây là mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát là tiền đề rất quan trọng để phát triển kinh tế đất nước, củng cố nền tảng vững chắc, duy trì niềm tin của nhà đầu tư, cộng đồng doanh nghiệp, người dân đối với môi trường kinh doanh, qua đó giúp thu hút nguồn vốn trong nước và nước ngoài và phân bổ tối ưu các nguồn lực.

Theo đó, trong bối cảnh rủi ro toàn cầu tăng lên và nhiều quốc gia trên thế giới liên tiếp bị hạ bậc xếp hạng do ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế vẫn đánh giá cao, nâng hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam do nền tảng vĩ mô ổn định, tiềm năng tăng trưởng khả quan.

Nhìn lại giai đoạn đất nước bị chia cắt và chiến tranh kéo dài, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện nhiệm vụ chính trị như thế nào để góp phần vào thắng lợi chung?

Sau Hiệp định Geneva (20/7/1954), 2 miền Nam - Bắc tạm thời bị chia cắt. Miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam bước vào cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trong giai đoạn này, Ngân hàng Nhà nước đã đảm nhận một sứ mệnh vô cùng đặc biệt: trở thành huyết mạch tài chính của cách mạng, đáp ứng nhu cầu kiến thiết nước nhà ở miền Bắc cũng như chi viện hữu hiệu cho chiến trường miền Nam phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc.

Không chỉ bảo đảm tài chính cho kháng chiến, ngành ngân hàng còn góp phần tạo dựng nền móng độc lập về tiền tệ, chủ quyền về kinh tế - tài chính, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, thu non sông về một mối, thống nhất đồng tiền - thống nhất lòng dân.
Không chỉ bảo đảm tài chính cho kháng chiến, ngành ngân hàng còn góp phần tạo dựng nền móng độc lập về tiền tệ, chủ quyền về kinh tế - tài chính, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, thu non sông về một mối, thống nhất đồng tiền - thống nhất lòng dân.

Ở miền Bắc - hậu phương lớn của cả nước, hệ thống ngân hàng đã phát huy tối đa vai trò là công cụ đắc lực của Đảng và Nhà nước trong quản lý, điều tiết tiền tệ và tín dụng quốc gia, góp phần quan trọng vào việc ổn định kinh tế, phát triển sản xuất và từng bước xây dựng nền tảng hoạt động ngân hàng theo định hướng chủ nghĩa xã hội.

Hoạt động ngân hàng đã tập trung vào huy động vốn, cho vay, tạo điều kiện cho việc sản xuất lương thực, thực phẩm là hậu phương vững chắc của miền Nam. Thông qua việc ban hành và triển khai đồng bộ các chính sách tài chính - tín dụng phù hợp với điều kiện chiến tranh, ngành Ngân hàng đã chủ động huy động mọi nguồn lực trong dân, trong hợp tác xã và các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể.

Các dòng vốn tín dụng ngân hàng đã “chảy” đến đúng nơi cần thiết - từ đồng ruộng, nông trường, hợp tác xã, nhà máy cơ khí, xí nghiệp sản xuất - đến các công trình trọng điểm của thời kỳ công nghiệp hóa bước đầu. Các hoạt động tín dụng đầu tư sản xuất, tín dụng khuyến nông, tín dụng tiết kiệm… đã góp phần hình thành nên một nền kinh tế tự lực, tự cường, từng bước thoát ly cơ chế bao cấp thủ công, hướng tới nền tài chính - ngân hàng xã hội chủ nghĩa. Đây là giai đoạn quan trọng, tiền đề cho sự phát triển sau này của hệ thống ngân hàng.

Ở miền Nam, nơi tuyến lửa, những chiến sĩ thầm lặng của ngành Ngân hàng trên mặt trận tài chính - tiền tệ đã vượt qua bom đạn, viết nên một con đường huyền thoại. Đó là con đường chuyển tiền bí mật chi viện nguồn lực tài chính cho chiến trường miền Nam từ năm 1959 đến ngày giải phóng năm 1975 với hai phương thức vận chuyển tiền là AM (Tiền mặt) và FM (Chuyển khoản).

Có thể khẳng định rằng, Ngân hàng Nhà nước đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị - tài chính - tiền tệ trong giai đoạn đặc biệt của đất nước. Không chỉ bảo đảm tài chính cho kháng chiến, ngành ngân hàng còn góp phần tạo dựng nền móng độc lập về tiền tệ, chủ quyền về kinh tế - tài chính, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, thu non sông về một mối, thống nhất đồng tiền - thống nhất lòng dân.

Được biết cách đây 4 năm, nhân kỷ niệm 70 năm thành lập, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức biên soạn và phát hành công trình nghiên cứu “Lịch sử đồng tiền Việt Nam”. Ý nghĩa và giá trị của công trình này trong dòng chảy lịch của dân tộc, thưa ông?

Đồng tiền, dưới góc nhìn lịch sử, không đơn thuần là phương tiện thanh toán, mà còn là tấm gương phản chiếu bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của từng thời kỳ. Từ những đồng tiền cổ xưa thời phong kiến, đến các loại giấy bạc Cách mạng được phát hành trong kháng chiến, cho tới đồng tiền thống nhất sau năm 1975 - tất cả đều kể lại câu chuyện độc lập dân tộc, khát vọng thống nhất đất nước và hành trình xây dựng nền tài chính - tiền tệ độc lập, tự chủ của dân tộc.

Cuốn sách “Lịch sử đồng tiền Việt Nam” là một trong những dấu mốc đặc biệt có ý nghĩa sâu sắc đối với ngành Ngân hàng được chúng tôi ấp ủ, chuẩn bị và dồn nhiều tâm huyết trong suốt một thời gian dài. Đây là công trình của nhiều tập thể, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà sưu tầm tiền.

Chúng tôi chọn mốc thời điểm đồng tiền từ năm 968, sau khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp 12 sứ quân và thống nhất đất nước lập nên triều đại và lấy tên đất nước là Đại Cồ Việt. Đến năm 970 phát hành đồng tiền đầu tiên lấy tên là Thái Bình Hưng Bảo và đồng tiền này cho đến nay đã hơn 1.000 năm. Chúng ta trải qua các thời kỳ, các giai đoạn lịch sử và cũng có thể nói có hàng nghìn đồng tiền đã được phát hành trong suốt chiều dài lịch sử đã được thống kê, tập hợp trong cuốn “Lịch sử đồng tiền Việt Nam”.

Tôi nhận thấy đây không chỉ là một tài liệu khoa học, mà còn là một di sản tri thức, có giá trị lịch sử - văn hóa - kinh tế đặc biệt, phản ánh sinh động hành trình phát triển của đất nước qua lăng kính đồng tiền.

Chúng tôi kỳ vọng, cuốn sách không chỉ là tài liệu nghiên cứu hữu ích cho các nhà khoa học, nhà nghiên cứu lịch sử, kinh tế học, mà còn là một “cầu nối ký ức” giúp công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, hiểu hơn về những giá trị mà cha ông đã dày công vun đắp. Đây cũng là lời tri ân của ngành ngân hàng đối với lịch sử dân tộc, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của đồng tiền quốc gia trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Người dân tham quan gian trưng bày thành tựu ngành ngân hàng tại Triển lãm "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc".

Người dân tham quan gian trưng bày thành tựu ngành ngân hàng tại Triển lãm "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc".

Với vai trò là chủ biên công trình “Lịch sử đồng tiền Việt Nam”, ông có thông điệp gì gửi đến thế hệ trẻ và công chúng nói chung?

Công trình “Lịch sử đồng tiền Việt Nam” không chỉ đơn thuần là một cuốn sách nghiên cứu về tiền tệ, mà còn là một lát cắt sinh động của lịch sử dân tộc. Qua hành trình của đồng tiền, chúng ta có thể thấy được cả một quá trình đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và xây dựng đất nước của cha ông ta.

Tôi nghĩ rằng, với thế hệ trẻ và công chúng hôm nay, việc hiểu về lịch sử đồng tiền cũng là một cách để hiểu về lịch sử đất nước, về những hy sinh, nỗ lực để có được một nền tài chính - tiền tệ độc lập, tự chủ như hôm nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rất giản dị mà sâu sắc: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Hiểu lịch sử - kể cả lịch sử qua đồng tiền - là cách để chúng ta thêm yêu nước, thêm tự hào, và từ đó có trách nhiệm gìn giữ, phát huy những giá trị mà thế hệ trước đã dày công vun đắp.

Tôi mong thế hệ trẻ hôm nay - những người mang khát vọng dựng xây đất nước - sẽ hiểu rằng, mỗi tờ tiền không chỉ có giá trị vật chất, mà còn mang linh hồn dân tộc, là thành quả của biết bao thế hệ đi trước đã hy sinh, gìn giữ. Biết quý trọng đồng tiền Việt Nam cũng là biết gìn giữ niềm tin, giữ ổn định cho hiện tại và kiến tạo cho tương lai.

Xa hơn, hướng tới kỷ niệm 100 năm độc lập, Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu chiến lược như thế nào, thưa ông?

Tầm nhìn đến năm 2045 - dấu mốc trọng đại kỷ niệm 100 năm độc lập của dân tộc, Ngân hàng Nhà nước xác định mục tiêu chiến lược là tiếp tục kiên định bám sát sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo và trách nhiệm cao, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương để thực hiện các mục tiêu phát triển chung của đất nước. Trên tinh thần đó, Ngân hàng Nhà nước đề ra một số mục tiêu, định hướng chính cho ngành Ngân hàng, nhằm hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia giàu mạnh, thịnh vượng, có thu nhập cao vào năm 2045.

Cụ thể những nội dung cơ bản được đặt ra như sau:

Một là, đổi mới hoàn thiện, thể chế, chính sách thể chế pháp lý hoạt động của ngành ngân hàng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.

Hai là, tiếp tục theo dõi, dự báo sát tình hình kinh tế trong nước và quốc tế để tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các quyết sách phù hợp và điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khoá và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu 2 con số.

Ba là, điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Bốn là, tiếp tục đầu tư nâng cấp, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng thanh toán hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả, ứng dụng thành tựu của CMCN 4.0. Bên cạnh đó là tăng cường công tác thanh tra, giám sát để đảm bảo an ninh an toàn, bảo mật trong lĩnh vực thanh toán cũng như các hoạt động khác trong hoạt động ngân hàng.

Tin bài liên quan