Các nhà đàm phán về khí hậu đã cố gắng để loại bỏ việc sử dụng than đá trong nhiều thập kỷ. Nhưng hiện nay, cuộc khủng hoảng nguồn cung khí đốt lần thứ hai chỉ trong hơn bốn năm đang đẩy các quốc gia trên khắp châu Âu và châu Á phải quay trở lại với than đá. Thêm vào đó là lập trường linh hoạt hơn từ phía Mỹ nên việc loại bỏ than đá dường như càng kéo dài hơn - sự đảo ngược đe dọa làm mất đi nhiều năm tiến bộ trong việc kiềm chế khí thải độc hại.
Nhật Bản - một trong những nước nhập khẩu khí đốt lớn nhất thế giới - mới đây cho biết sẽ mở rộng việc sử dụng các nhà máy điện than khi nước này cố gắng đa dạng hóa khả năng sản xuất điện. Tại Bangladesh và Ấn Độ, các nhà máy điện than đã và đang gánh vác gánh nặng thiếu hụt ở những nguồn khác.
Ngay cả ở khu vực mà phần lớn các nguồn năng lượng bẩn đã bị loại bỏ là châu Âu, các quốc gia như Hà Lan, Ba Lan và Cộng hòa Séc đều có thể chứng kiến việc sử dụng than nhiều hơn nếu giá khí đốt vẫn ở mức cao. Đức đang xem xét việc tái kích hoạt các nhà máy nhiệt điện than đã ngừng hoạt động như một cách để kiềm chế giá điện.
Khí đốt từ lâu đã được bán cho các nước đang phát triển như một loại nhiên liệu chuyển tiếp - lựa chọn thay thế sạch hơn cho than đá, có giá cả phải chăng và đáng tin cậy, và là một bước trên con đường hướng tới sản xuất điện không phát thải.
Nhưng điều này trở nên khó duy trì hơn sau hỗn loạn sau xung đột Nga-Ukraine, sau đó là các cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào Iran và một cuộc tấn công trả đũa vào nhà máy Ras Laffan khổng lồ của Qatar có thể dẫn đến sự gián đoạn kéo dài nhiều năm. Giá khí đốt ở châu Âu và châu Á vẫn chưa đạt mức năm 2022, nhưng đã tăng vọt khiến nhiều nền kinh tế mới nổi không đủ khả năng chi trả, trong đó các khách hàng công nghiệp trên khắp châu Á đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
"Giá năng lượng cao sẽ khiến các chính phủ, ngành công nghiệp và hộ gia đình phải tìm kiếm các lựa chọn khác… Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu có áp lực tăng lên đối với việc sử dụng than đá, cả để sản xuất điện lẫn trong lĩnh vực công nghiệp", Fatih Birol, Giám đốc Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết.
Sự chuyển hướng mạnh mẽ nhất sang than đá có thể sẽ diễn ra ở châu Á, khi sự phụ thuộc nặng nề vào dầu khí từ Trung Đông và trong nhiều trường hợp là khả năng hạn chế trong việc hấp thụ chi phí cao hơn, đang gây ra những khó khăn nghiêm trọng. Hợp đồng tương lai than Newcastle - benchmark (giá chuẩn) cho than dùng phát điện ở châu Á - đã tăng hơn 30% kể từ đầu năm nay và đạt mức cao nhất kể từ năm 2024 vào đầu tháng này.
![]() |
Hợp đồng tương lai than Newcastle tại Úc |
Cổ phiếu của các công ty khai thác than của Úc đã tăng vọt khi việc Iran phong tỏa hiệu quả eo biển Hormuz làm gián đoạn nguồn cung dầu khí, đẩy châu Á hướng tới các nguồn năng lượng khác. Úc là nước xuất khẩu than nhiệt lớn thứ hai thế giới, xuất khẩu 209 triệu tấn vào năm ngoái, với Trung Quốc và Nhật Bản là thị trường chính.
Giá cổ phiếu của Yancoal, công ty khai thác than lớn nhất niêm yết tại Sydney, đã tăng vọt 40% trong tháng qua. Các công ty khai thác than lớn khác như Whitehaven và New Hope tăng lần lượt 22% và 25%. Trong khi đó, chỉ số S&P/ASX 200 giảm hơn 8% trong cùng kỳ.
Các nền kinh tế lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) là những nhà nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn và cũng duy trì các nhà máy điện than lớn, cho phép họ có khả năng để đốt nhiều than hơn khi nguồn cung LNG khan hiếm.
Trong khi đó, các nước xuất khẩu than truyền thống như Úc và Indonesia cũng có thể hạn chế xuất khẩu để đảm bảo nguồn cung trong nước.
“Indonesia đang ưu tiên tiêu thụ than trong nước hơn xuất khẩu, điều này làm thắt chặt nguồn cung cho nhập khẩu than ở châu Á… Các nước còn lại trong khu vực không nhất thiết được hưởng lợi từ nguồn than dồi dào của Indonesia nếu nước này không thể xuất khẩu”, Vicky Janita, nhà phân tích tại Rystad Energy cho biết.
Trên phạm vi toàn cầu, nhu cầu than đá được dự đoán sẽ bắt đầu giảm trong thập kỷ này. Vào tháng 12, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết mức sử dụng than đá vào năm 2025 đã tăng nhẹ lên 8,85 tỷ tấn và dự báo sẽ giảm 1,4% đến năm 2027. Nhưng dự đoán này hiện nay có vẻ ít khả thi hơn nhiều trong bối cảnh khủng hoảng khí đốt đang diễn ra.
"Trực giác của tôi cho rằng vào năm 2026, chắc chắn mức tiêu thụ than sẽ không giảm theo đúng dự báo dựa trên các giả định trước xung đột… Điều quan trọng nhất là phải đảm bảo nguồn điện luôn được cung cấp và năng suất lao động được duy trì", Doug Arent, nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Chuyển đổi Năng lượng Toàn cầu WRI Polsky cho biết.
