Nghị quyết 27-NQ/TW: Tổ chức lại không gian phát triển quốc gia, tạo dư địa cho mô hình tăng trưởng mới

0:00 / 0:00
0:00
Trọng tâm xuyên suốt của Nghị quyết 27-NQ/TW là tổ chức lại không gian phát triển quốc gia, phát huy lợi thế từng vùng, tăng cường liên kết, khơi thông nguồn lực và hình thành những động lực tăng trưởng mới.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Ảnh: Đức Thanh.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Ảnh: Đức Thanh.

Ngày 3/9, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.

Theo đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, sau hơn 3 năm triển khai các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại 6 vùng kinh tế - xã hội, nhận thức về vai trò của phát triển vùng được nâng lên, liên kết vùng từng bước được tăng cường, tiềm năng và lợi thế của các địa phương được khai thác hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy nhiều điểm nghẽn chưa được giải quyết. Phát triển vùng chưa đạt các mục tiêu đề ra; nguồn lực xã hội chưa được khơi thông đầy đủ; quy hoạch còn chồng lấn, thiếu đồng bộ; kết cấu hạ tầng vẫn là điểm nghẽn; các hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành phát triển chậm. Một số đô thị lớn, cực tăng trưởng chưa phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân và sức lan tỏa, trong khi liên kết giữa các địa phương và giữa các vùng vẫn chưa thực sự hiệu quả.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 27-NQ/TW được ban hành nhằm tạo một cách tiếp cận mới đối với bài toán phát triển vùng, đặc biệt là sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Ba quan điểm chỉ đạo xuyên suốt

Nghị quyết xác định 3 quan điểm chỉ đạo.

Thứ nhất, phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia. Phát triển vùng đồng thời là phương thức tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới.

Theo đó, cần đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng; chuyển từ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt mọi nguồn lực. Nội lực được xác định là yếu tố cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định, kết hợp hiệu quả với ngoại lực nhằm bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và có sức chống chịu cao.

Thứ hai, tổ chức lại không gian phát triển quốc gia, vùng. Không gian phát triển quốc gia được tổ chức thống nhất trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng trong tổng thể phát triển đất nước.

Nghị quyết nhấn mạnh phát huy sự liên kết, bổ trợ và lan tỏa giữa các vùng, vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và các trung tâm kinh tế; khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trong giới hạn sinh thái, phù hợp khả năng chịu tải của môi trường, khắc phục tư duy cục bộ, phát triển dàn trải, trùng lặp.

Toàn cảnh Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị.Ảnh: Đức Thanh

Toàn cảnh Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị.Ảnh: Đức Thanh

Thứ ba, cơ chế liên kết và điều phối vùng phải thực chất, hiệu quả. Đây được xác định là khâu đột phá, bảo đảm đồng bộ, liên thông trong quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, địa phương và hài hòa lợi ích giữa địa phương, vùng và quốc gia.

Mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Mục tiêu tổng quát là tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia, trên cơ sở phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh và bản sắc văn hóa của từng vùng, từng địa phương.

Nghị quyết đồng thời phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt, lan tỏa của các vùng động lực, hành lang kinh tế và cực tăng trưởng; bảo đảm tự chủ chiến lược, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình, ổn định.

Đến năm 2030, Nghị quyết đề ra mục tiêu và 22 chỉ tiêu cụ thể cho từng vùng, phù hợp với tiềm năng, lợi thế so sánh và thực tiễn phát triển, qua đó bảo đảm các vùng liên kết chặt chẽ, hữu cơ với nhau và cùng thực hiện mục tiêu phát triển chung của đất nước.

Tầm nhìn đến năm 2045 là các vùng phát triển và vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu và kinh tế tuần hoàn; có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, xanh, an toàn, chống chịu cao và kết nối thông suốt.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực chính của tăng trưởng và phát triển; liên kết giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng được tăng cường; quản trị xã hội dựa trên nền tảng xã hội số; môi trường sinh thái bền vững; quốc phòng, an ninh hiện đại, tự chủ, tự cường; người dân được hưởng các dịch vụ xã hội chất lượng cao.

10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Để thực hiện các mục tiêu trên, Nghị quyết đề ra 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.

Một là, tổ chức không gian phát triển vùng và thực hiện tốt quy hoạch vùng. Không gian phát triển kinh tế - xã hội được tổ chức theo hướng đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới. Quy hoạch vùng phải đồng bộ với Quy hoạch tổng thể quốc gia và quy hoạch ngành; ưu tiên nguồn lực cho các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, các cực tăng trưởng và hình thành các hành lang kinh tế kết nối vùng động lực, cực tăng trưởng quốc gia.

Hai là, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển vùng. Trọng tâm là hoàn thiện cơ chế phối hợp, điều phối và huy động nguồn lực vùng; tạo cơ chế chia sẻ nguồn lực, lợi ích giữa quốc gia, vùng và địa phương; đẩy mạnh liên kết theo không gian phát triển và chuỗi giá trị. Đồng thời đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Hội đồng điều phối vùng theo hướng thực chất, hiệu lực, hiệu quả.

Ba là, đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành và phát triển các động lực kinh tế mới của vùng. Các vùng được định hướng phát triển kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Cùng với đó là phát triển các thị trường khoa học - công nghệ, vốn, lao động; phát triển hạ tầng thành một ngành kinh tế chiến lược và khuyến khích các ngành có giá trị gia tăng cao, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Bốn là, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, đồng bộ, liên vùng. Tập trung nguồn lực cho hạ tầng chiến lược, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng; phát triển đồng bộ giao thông, năng lượng, logistics, đô thị, dữ liệu, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, giáo dục. Ưu tiên các tuyến giao thông trục xương sống Bắc - Nam và các hành lang Đông - Tây thế hệ mới, qua đó nâng cao năng lực logistics và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Năm là, phát triển hệ thống đô thị hiện đại và các cực tăng trưởng của vùng. Quy hoạch đô thị theo hướng phát triển các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế - đô thị, trung tâm kinh tế và đô thị động lực; khuyến khích các mô hình đô thị xanh, thông minh, đô thị nén. Nghị quyết ưu tiên phát triển hai cực tăng trưởng lớn nhất là vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị TP.HCM; phấn đấu đến năm 2045 có ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế.

Sáu là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trọng tâm là chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực trong các lĩnh vực then chốt; thu hút chuyên gia, nhà khoa học, nhân tài; phát triển các trung tâm đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, các trung tâm R&D, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung. Đồng thời phát triển hạ tầng số, tài nguyên số, không gian số, dữ liệu lớn, kinh tế dữ liệu và các cụm trung tâm dữ liệu quốc gia.

Bảy là, phát triển văn hóa, xã hội và bảo đảm an sinh xã hội toàn diện. Văn hóa từng vùng được phát triển gắn với bảo tồn bản sắc, giá trị lịch sử, truyền thống và vốn sinh thái nhân văn; thúc đẩy các trục di sản, văn hóa, du lịch liên vùng. Hệ thống y tế và an sinh xã hội được phát triển theo hướng toàn diện, hiện đại, kết nối, bảo đảm công bằng giữa các vùng.

Tám là, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện thể chế, chính sách và quy hoạch về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; tăng cường liên kết vùng trong quản lý môi trường và xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường đồng bộ. Đồng thời chú trọng phòng, chống thiên tai, bảo đảm an ninh nguồn nước, quản lý và sử dụng bền vững đất đai, tài nguyên, rừng và tài nguyên biển.

Chín là, tăng cường quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế. Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn chặt với bảo đảm quốc phòng, an ninh; củng cố thế trận quốc phòng, an ninh vùng, nhất là tại các vùng chiến lược, biên giới, biển đảo. Đồng thời tăng cường hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế trong kết nối, phát triển vùng, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, thương mại, đầu tư, du lịch và hạ tầng.

Mười là, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; hoàn thiện mô hình, tổ chức bộ máy chính quyền địa phương phù hợp đặc điểm từng vùng; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm”. Đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đẩy mạnh chuyển đổi số, chia sẻ dữ liệu và lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả hoạt động.

Tin bài liên quan