Quy trình mới về kiểm tra sau thông quan chính thức có hiệu lực

0:00 / 0:00
0:00
Từ tháng 2/2026, Quyết định số 2123/QĐ-CHQ của Cục trưởng Cục Hải quan về quy trình kiểm tra sau thông quan và quản lý chế độ ưu tiên chính thức được áp dụng, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong công tác quản lý hải quan sau thông quan.
Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Quyết định này thay thế đồng thời Quyết định số 575/QĐ-TCHQ ngày 21/3/2019 về quy trình kiểm tra sau thông quan và Quyết định số 2659/QĐ-TCHQ ngày 14/9/2015 về thẩm định, công nhận và quản lý doanh nghiệp ưu tiên theo Thông tư 72/2015/TT-BTC, qua đó hợp nhất, chuẩn hóa các quy định trước đây vốn còn phân tán.

Theo Quyết định số 2123/QĐ-CHQ, trình tự, thời hạn và trách nhiệm trong hoạt động kiểm tra sau thông quan được quy định thống nhất, khắc phục tình trạng áp dụng chưa đồng đều giữa các đơn vị. Quy trình kiểm tra phải được xác định rõ ngay trong quyết định kiểm tra; thời hạn được tính theo ngày làm việc liên tục và kết thúc tại thời điểm ký biên bản kiểm tra cuối cùng tại trụ sở cơ quan hải quan hoặc trụ sở người khai hải quan, không bao gồm thời gian tạm dừng theo quy định pháp luật.

Đáng chú ý, quy trình mới phân định rạch ròi hai hình thức kiểm tra sau thông quan: kiểm tra tại trụ sở cơ quan hải quan và kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan. Với mỗi hình thức, các bước từ đề xuất, phê duyệt, ban hành quyết định kiểm tra, lập biên bản, báo cáo kết quả đến ban hành thông báo hoặc kết luận kiểm tra đều được quy định cụ thể, rõ ràng.

Việc ban hành và triển khai Quyết định số 2123/QĐ-CHQ được kỳ vọng sẽ nâng cao tính minh bạch, kỷ cương trong kiểm tra sau thông quan, đồng thời tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho cơ quan hải quan và doanh nghiệp trong quá trình thực thi.

Theo Quyết định số 2123/QĐ-CHQ, hoạt động kiểm tra sau thông quan được thực hiện trên cơ sở quản lý rủi ro, từ khâu lựa chọn đối tượng, phạm vi, nội dung đến quá trình tổ chức kiểm tra.

Trường hợp nhiều đơn vị hải quan cùng xây dựng kế hoạch kiểm tra liên quan đến báo cáo quyết toán, sử dụng nguyên liệu, vật tư, việc kiểm tra được thống nhất thực hiện theo quy trình kiểm tra sau thông quan; các đơn vị không trực tiếp kiểm tra có trách nhiệm chuyển giao thông tin, dấu hiệu rủi ro hoặc vi phạm để phục vụ công tác kiểm tra.

Quyết định cũng quy định nguyên tắc tránh chồng chéo trong hoạt động kiểm tra. Trong cùng một năm, với cùng nội dung quản lý nhà nước, nếu đã tiến hành thanh tra hoặc kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan thì không thực hiện kiểm tra sau thông quan tại trụ sở đó, trừ trường hợp xuất hiện dấu hiệu vi phạm rõ ràng.

Trước khi ban hành quyết định kiểm tra, cơ quan hải quan phải tra cứu lịch sử kiểm tra sau thông quan trên hệ thống thông tin chuyên ngành, kế thừa các kết luận trước đó; trường hợp phát hiện nội dung còn dấu hiệu vi phạm nhưng chưa được kết luận hoặc kết luận chưa phù hợp, phải báo cáo người có thẩm quyền xem xét quyết định kiểm tra bổ sung theo quy định.

Công tác chuẩn bị kiểm tra sau thông quan được yêu cầu thực hiện chặt chẽ, từ thu thập, sàng lọc thông tin, phân tích rủi ro đến xây dựng kế hoạch và phương pháp kiểm tra phù hợp.

Trước khi ban hành kết luận, thông báo kết quả kiểm tra, quyết định ấn định thuế hoặc xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan hải quan phải tạo điều kiện để doanh nghiệp giải trình; đối với các vụ việc phức tạp, người có thẩm quyền ký quyết định kiểm tra, thông báo kết quả phải trực tiếp đối thoại với doanh nghiệp nhằm bảo đảm đồng thuận và hạn chế phát sinh khiếu nại, khiếu kiện, nợ đọng thuế.

Trong quá trình kiểm tra sau thông quan, nếu phát sinh vướng mắc liên quan đến chính sách, quy định thuộc thẩm quyền Cục Hải quan, Chi cục kiểm tra sau thông quan là đầu mối xử lý hoặc báo cáo lãnh đạo Cục để chuyển các đơn vị chức năng giải quyết.

Việc cập nhật danh sách doanh nghiệp kiểm tra trên hệ thống thông tin được thực hiện theo nguyên tắc đơn vị nào cập nhật trước, sau khi được lãnh đạo Chi cục phê duyệt, thì đơn vị đó thực hiện kiểm tra.

Đối với trường hợp người khai hải quan không chấp hành quyết định kiểm tra, không cử đại diện làm việc, không cung cấp hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu, cơ quan hải quan sẽ xử lý theo quy định.

Cụ thể, đoàn kiểm tra lập biên bản vi phạm hành chính để xem xét xử phạt; nếu đủ căn cứ, người có thẩm quyền ban hành kết luận kiểm tra và các quyết định hành chính liên quan trên cơ sở hồ sơ, dữ liệu hiện có.

Trường hợp chưa đủ cơ sở kết luận, đoàn kiểm tra tiếp tục thu thập thông tin từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan hoặc xin ý kiến chuyên môn để hoàn thiện kết luận. Thông tin về việc không chấp hành của doanh nghiệp sẽ được cập nhật trên hệ thống dữ liệu hải quan để áp dụng biện pháp kiểm tra phù hợp đối với các lô hàng tiếp theo.

Tin bài liên quan