VinFast, THACO và TC Group kiến nghị giữ ô tô là ngành kinh doanh có điều kiện

0:00 / 0:00
0:00
Ba doanh nghiệp tư nhân lớn trong ngành ô tô là VinFast, Trường Hải (THACO) và Thành Công (TC Group) đã đề nghị giữ ô tô lại trong danh mục "kinh doanh có điều kiện".
Sản xuất, lắp ráp ô tô tại Nhà máy VinFast Hải Phòng.

Sản xuất, lắp ráp ô tô tại Nhà máy VinFast Hải Phòng.

Liên quan đến đề nghị của các doanh nghiệp ô tô về việc giữ lại điều kiện và thủ tục hành chính đối với lĩnh vực sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu ô tô, Phó thủ tướng thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa giao Bộ trưởng Bộ Công Thương nghiên cứu, khẩn trương đề xuất trong quá trình xây dựng phương án cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Trước đó, ba doanh nghiệp ngành ô tô có hoạt động lắp ráp, sản xuất tại Việt Nam là THACO, VinFast và TC Group đã đồng loạt kiến nghị Thủ tướng, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính cân nhắc lại đề xuất loại bỏ ngành nghề sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu ô tô khỏi danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Cho rằng, việc đáp ứng các điều kiện về nhà xưởng, dây chuyền, cơ sở bảo hành, bảo dưỡng không phải rào cản hành chính mà để đảm bảo chất lượng, trách nhiệm của nhà sản xuất suốt vòng đời sử dụng, THACO cũng nhận xét, việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh với lĩnh vực ô tô chưa phù hợp. Bởi, đây là ngành công nghiệp nền tảng, tác động đến nhiều ngành, đồng thời có khả năng ảnh hưởng tới trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng, môi trường.

Theo THACO, bất kỳ lỗi kỹ thuật nào phát sinh trong suốt quá trình sử dụng cũng có thể gây mất an toàn, ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng hoặc khả năng ảnh hưởng tới môi trường (do các trục trặc kỹ thuật dẫn đến các sai hỏng về phát xả khí thải hoặc rò rỉ các chất độc hại ra môi trường).

Do đó, người tiêu dùng cần phải được bảo đảm quyền tiếp cận các nhà sản xuất, phân phối có đủ năng lực về bảo hành, bảo dưỡng, cung ứng linh phụ kiện thay thế và triệu hồi sản phẩm trong trường hợp sản phẩm có khuyết tật có thể gây mất an toàn trong quá trình sử dụng.

Trong kiến nghị của mình, phía VinFast cũng khẳng định, các điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật thể hiện năng lực, cam kết đầu tư nghiêm túc và lâu dài của doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe. Hãng cũng kiến nghị giữ lại các thủ tục hành chính trong nhập khẩu, sản xuất ôtô để tránh nguy cơ để lọt các doanh nghiệp không đáp ứng yêu cầu.

"Nguy cơ thiệt hại cho người tiêu dùng càng lớn hơn vì ôtô loại hàng hóa có giá trị cao, kỹ thuật và công nghệ phức tạp", VinFast nhận xét.

Mẫu xe Honda CR-V hybrid được lắp ráp tại Việt Nam thay vì nhập khẩu nguyên chiếc từ Thái Lan kể từ tháng 2/2026.

Mẫu xe Honda CR-V hybrid được lắp ráp tại Việt Nam thay vì nhập khẩu nguyên chiếc từ Thái Lan kể từ tháng 2/2026.

Còn TC Group – nơi đang hợp tác với Hyundai cũng cho rằng, những năm qua, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp như hãng đã đầu tư lớn vào hệ thống nhà xưởng, dây chuyền công nghệ, nhân lực và hệ thống cung ứng nội địa. Vì vậy, việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh bắt buộc sẽ không công bằng giữa các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp với nhập khẩu ôtô.

"Nếu các điều kiện kinh doanh với xe trong nước và nhập khẩu bị bãi bỏ hoàn toàn, doanh nghiệp nhập khẩu có thể tham gia thị trường với rào cản thấp hơn. Điều này dẫn tới bất lợi cho các doanh nghiệp đã đầu tư và có chiến lược dài hạn vào sản xuất trong nước", TC Group cho biết.

Trước đó, khi nói về những tác động khi đưa sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô khỏi Danh mục kinh doanh có điều kiện, Bộ Công Thương cũng đề cập tới một số rủi ro tương tự các doanh nghiệp trên. Ngoài ra, cơ quan này cũng cho rằng các quy định hiện hành thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất để sản xuất, lắp ráp ôtô từ linh kiện rời.

Nếu bỏ các quy định này, doanh nghiệp có thể nhập khẩu nguyên khối thân xe tương đối hoàn chỉnh và chỉ thực hiện các công đoạn lắp ráp đơn giản. Điều này sẽ khiến ngành công nghiệp ô tô trong nước mất động lực nội địa hóa và phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Bộ cũng không loại trừ một số quốc gia gần kề như Trung Quốc, đang dư thừa lớn công suất sản xuất ôtô, sẽ chuyển phần dư thừa này sang Việt Nam dưới dạng các dự án FDI lắp ráp đơn giản, nhằm lẩn tránh quy định về xuất xứ, từ đó xuất khẩu sang các quốc gia khác. Khi đó, Việt Nam có nguy cơ bị các quốc gia điều tra về hành vi trung chuyển hàng hóa, bị áp dụng các biện pháp thuế quan trừng phạt với nhiều ngành xuất khẩu khác.

Ngành sản xuất ô tô Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ, đóng góp lớn trong việc đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp hóa, hiện đại hóa với các hoạt động kinh tế có giá trị cao, nâng cao mức sống bằng việc tạo việc làm và tạo ra chuỗi giá trị từ ngành công nghiệp hỗ trợ.

Ngành công nghiệp ô tô chiếm trên 3% giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tạo việc làm cho khoảng 200.000 lao động trực tiếp có kỹ năng thuộc lĩnh vực sản xuất lắp ráp ô tô và công nghiệp hỗ trợ. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) liên tục cao hơn khoảng 10 điểm so với mức trung bình của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, cụ thể, trong 11 tháng đầu năm 2025, IIP ngành ô tô đạt tăng trưởng 22% so với cùng kỳ năm 2024 (trong đó 35,4% đối với ô tô và 6,9% đối với linh kiện phụ tùng ô tô). Sản lượng xe sản xuất, lắp ráp trong nước liên tục tăng, từ 323.892 xe năm trong 2020 lên khoảng 388.500 xe trong năm 2024 và dự kiến tăng hơn 500.000 xe trong năm 2025, chiếm khoảng 65 - 75% tổng số xe bán ra.

Công nghiệp hỗ trợ cho ngành công nghiệp ô tô đã có sự chuyển dịch theo hướng gia tăng dần tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất trang thiết bị, linh kiện, phụ tùng và giảm dần tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực lắp ráp, sản xuất thân và thùng xe ô tô.

Đến nay, có khoảng 650 nhà sản xuất ô tô và phụ tùng ô tô tại Việt Nam, trong đó, doanh nghiệp cung ứng linh kiện đạt tiêu chuẩn nhà cung ứng cấp 1 cho các hãng ô tô lớn lên tới hơn 400 doanh nghiệp, tăng hơn 200% so với năm 2016, thống kê rộng hơn có khoảng 2.000 nhà sản xuất linh kiện phụ tùng các loại, bao gồm các nhà cung cấp nhỏ.

Xuất khẩu linh kiện phụ tùng cũng tăng nhanh, năm 2024, Việt Nam đã xuất khẩu 10,6 tỷ USD linh kiện phụ tùng ô tô và 3 quốc gia nhập khẩu chính là Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là dây dẫn điện (khoảng một nửa kim ngạch xuất khẩu phụ tùng), đưa Việt Nam trở thành nhà xuất khẩu dây dẫn điện lớn thứ ba thế giới, tạo thặng dư thương mại phụ tùng.

Công nghiệp hỗ trợ ngành sản xuất ô tô đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của ngành ô tô Việt Nam. Các doanh nghiệp tại Việt Nam (cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI) đã sản xuất được các nhóm linh kiện, phụ tùng ô tô như: các chi tiết cấu thành khung gầm xe, thùng xe, vỏ cabin - cửa xe, săm lốp, bộ tản nhiệt, dây phanh, hệ thống dây dẫn điện trong ô tô, trục dẫn, vành bánh xe, nhíp lò xo, ống xả, ruột két nước, hộp số, vô lăng, van điều khiển trong hộp số tự động, điều khí trong động cơ, sơ mi xi lanh, một số sản phẩm đúc hợp kim, một số chi tiết composit,... góp phần gia tăng tỷ lệ nội địa hóa của một số dòng xe chiến lược, như tỷ lệ nội địa hóa đối với xe tải đạt được 40 - 45%, xe buýt đạt 60 - 70%, vượt mục tiêu của Chính phủ đề ra trong Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến 2035.

Việc đưa sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện là một bước đi chiến lược và đã góp phần quan trọng trong việc định hình nền công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay. Cụ thể, đến hết năm 2025, cả nước có khoảng gần 650 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp ô tô.

Trong đó, có 40 doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô với sản lượng thiết kế khoảng trên 1 triệu xe/năm; trên 45 doanh nghiệp sản xuất khung gầm, thân xe, thùng xe; hơn 400 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô,... với sản lượng sản xuất lắp ráp trong nước đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xe dưới 9 chỗ ngồi trong nước.

So với các mục tiêu được xác định trong Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1168/QĐ-TTg ngày 16/7/2014, ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam đã đạt được một số kết quả nhất định.

Theo đó, Chiến lược xác định đến năm 2020, tổng sản lượng xe sản xuất trong nước đạt khoảng 227.500 chiếc và đạt 466.400 chiếc đến năm 2025. Tuy nhiên, trên thực tế, tổng sản lượng xe sản xuất trong nước năm 2020 đã đạt 323.892 chiếc, và đến năm 2025 đã tăng rất mạnh lên hơn 480.000 xe/năm, vượt mục tiêu đề ra tại Chiến lược.

Chiến lược cũng xác định đến năm 2020, xe sản xuất lắp ráp trong nước chiếm khoảng 67% nhu cầu nội địa. Thực tế, theo số liệu từ Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), xe sản xuất, lắp ráp trong nước chiếm khoảng 65-70% tổng thị trường, cơ bản đạt mục tiêu đề ra tại Chiến lược;

Với việc phát triển công nghiệp hỗ trợ, Chiến lược xác định đến năm 2020, tỷ lệ giá trị sản xuất chế tạo trong nước đối với xe đến 9 chỗ đạt 30 - 40%, từ 10 chỗ trở lên đạt 35 - 45%, xe tải đạt 30 - 40%. Đến nay, giá trị sản xuất chế tạo trong nước đối với xe buýt đã đạt 60%, xe tải đạt 40 - 50%, xe con có tỷ lệ bình quân 20% (một số dòng xe cá biệt đã đạt tỷ lệ nội địa hóa trên 30% - theo báo cáo của doanh nghiệp). Như vậy, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam cơ bản đã đạt mục tiêu về tỷ lệ giá trị sản xuất chế tạo trong nước đề ra tại Chiến lược đối với xe buýt và xe tải.

Tin bài liên quan