Xuất khẩu tôm 2 tháng đầu năm tăng 20%, thị trường chủ lực Mỹ vẫn bất định

Xuất khẩu tôm 2 tháng đầu năm tăng 20%, thị trường chủ lực Mỹ vẫn bất định

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Tháng 2/2026, xuất khẩu tôm đạt gần 310 triệu USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế 2 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu tôm đạt 690 triệu USD, tăng 20%, nhưng thị trường Mỹ vẫn tạo sức ép lớn.

Tôm hùm vươn lên thành động lực tăng trưởng

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (Vasep) đánh giá, so với mức tăng 22% của tháng 1, nhịp tăng trong tháng 2 đã chậm lại, phản ánh khá rõ yếu tố mùa vụ khi kỳ nghỉ Tết Nguyên đán làm gián đoạn một phần hoạt động chế biến, giao hàng. Dù vậy, mức tăng gần 20% trong 2 tháng đầu năm vẫn cho thấy đơn hàng tôm của Việt Nam đang duy trì xu hướng tích cực hơn so với cùng kỳ năm trước.

Trong cơ cấu sản phẩm, dù tôm chân trắng vẫn là mặt hàng chủ lực với 341,5 triệu USD, chiếm 49,5% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm, nhưng chỉ tăng 4,5%. Tôm sú đạt 44,6 triệu USD, tăng 13%.

Đáng chú ý, ngành tôm ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ của tôm hùm với tổng kim ngạch xuất khẩu tôm hùm các loại đạt 259 triệu USD trong 2 tháng đầu năm nay, tăng 65% so với cùng kỳ 2025. Cụ thể, tôm hùm xanh đạt 206 triệu USD, tăng 32% so với cùng kỳ năm trước; tôm hùm bông đạt gần 1,3 triệu USD, tăng 43%. Tôm hùm các loại khác đạt 52 triệu USD, tăng 6.138%.

Như vậy, tăng trưởng chung gần 20% của toàn ngành tôm trong 2 tháng đầu năm 2026 không còn đến chủ yếu từ tôm chân trắng như thông lệ, mà có sự đóng góp rất đáng kể từ nhóm tôm hùm và các sản phẩm tôm loại khác như tôm càng (tăng 142%), tôm càng xanh (tăng 199%), tôm vằn (tăng 466%).

Về thị trường, Trung Quốc tiếp tục là đầu kéo lớn nhất của xuất khẩu tôm Việt Nam. Riêng tháng 2, kim ngạch sang thị trường này đạt 168 triệu USD, tăng 131% so với cùng kỳ; lũy kế 2 tháng đạt 298 triệu USD, tăng 61%. Tính cả Trung Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc), kim ngạch 2 tháng đạt 309 triệu USD, tăng 58%, chiếm tới 45% tổng xuất khẩu tôm của cả nước.

Ngược lại, thị trường Mỹ giảm mạnh trong tháng 2 khi kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 16 triệu USD, giảm 61% so với cùng kỳ; lũy kế 2 tháng đạt gần 60 triệu USD, giảm 22%.

Ngoài ra, Nhật Bản đạt 25 triệu USD trong tháng 2, giảm 28%; lũy kế 2 tháng đạt 70 triệu USD, tăng nhẹ 1%. Hàn Quốc đạt 14 triệu USD trong tháng 2, giảm 42% kéo theo 2 tháng giảm 14%, còn 41 triệu USD. Trong khi đó, EU vẫn là điểm sáng tương đối ổn định với kim ngạch tháng 2 đạt 30 triệu USD, tăng 18%; lũy kế 2 tháng đạt 77 triệu USD, tăng 28%.

Nếu xét theo quy mô lũy kế, sau Trung Quốc là EU, Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc. Điều này cho thấy trục tăng trưởng của ngành tôm đầu năm 2026 đang dịch rõ hơn về phía Trung Quốc và EU, trong khi Mỹ, Nhật và Hàn Quốc vẫn thận trọng hơn.

Biến số thị trường Mỹ

Vasep nhấn mạnh, diễn biến tại Mỹ đang là yếu tố gây áp lực lớn nhất đối với xuất khẩu tôm Việt Nam.

Yếu tố tác động trực tiếp đầu tiên là kết quả cuối cùng của kỳ rà soát hành chính lần thứ 19 đối với tôm nước ấm đông lạnh Việt Nam. Theo công bố chính thức của Bộ Thương mại Hoa Kỳ, hai bị đơn bắt buộc bị áp biên độ 25,76%, trong khi 22 doanh nghiệp được hưởng mức thuế suất riêng rẽ là 4,58%. Mức thuế này không chỉ gia tăng rủi ro chi phí mà còn khiến nhà nhập khẩu Mỹ thận trọng hơn trong chốt đơn hàng mới.

Yếu tố thứ hai là chính sách thuế nhập khẩu bổ sung 10% mà Nhà Trắng công bố ngày 20/02/2026 áp dụng trong thời hạn 150 ngày. Do chính sách này chỉ có hiệu lực từ ngày 24/02, tác động đến kim ngạch tháng 2 chưa phản ánh đầy đủ, nhưng ảnh hưởng đến tâm lý giao dịch và đàm phán giá đã bắt đầu xuất hiện. Với mặt hàng tôm vốn nhạy cảm về giá, bất kỳ khoản thuế bổ sung nào cũng có thể làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu trong ngắn hạn.

Yếu tố thứ ba là Mỹ đang siết chặt kiểm soát kỹ thuật đối với thủy sản nhập khẩu. Các yêu cầu liên quan đến kháng sinh, HACCP, truy xuất nguồn gốc và cơ chế cảnh báo nhập khẩu tiếp tục được tăng cường từ đầu tháng 3. Với mặt hàng tôm, điều này phát sinh rủi ro và có thể ảnh hưởng đến khả năng thông quan, tiến độ giao hàng và chi phí phát sinh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh xuất khẩu sang Mỹ đã giảm trong tháng 2, các rào cản kỹ thuật này càng làm thị trường trở nên khó lường hơn.

Ngoài ra, rủi ro logistics từ căng thẳng tại Trung Đông vẫn là yếu tố cần theo dõi. Những biến động trên các tuyến vận tải quốc tế có thể làm tăng chi phí giao hàng sang Trung Đông và một phần thị trường châu Âu, qua đó gây áp lực lên biên lợi nhuận của doanh nghiệp tôm trong các tháng tới. Dù tác động chưa thể hiện rõ ngay trên số liệu tháng 2, đây vẫn là biến số bất lợi đối với ngành hàng vốn chịu cạnh tranh giá cao.

Do đó, bước sang tháng 3, khi hoạt động sản xuất và giao hàng trở lại bình thường sau kỳ nghỉ Tết, Vasep kỳ vọng xuất khẩu tôm có thể phục hồi tốt hơn về nhịp giao dịch. Tuy nhiên, dư địa tăng mạnh sẽ không dễ, bởi thị trường Mỹ vẫn chịu nhiều sức ép kể trên.

Trong bối cảnh đó, khả năng duy trì tăng trưởng của ngành tôm sẽ phụ thuộc nhiều vào việc tận dụng tốt nhu cầu tại Trung Quốc, giữ ổn định thị phần tại EU, đồng thời phát huy lợi thế của nhóm sản phẩm giá trị gia tăng, nhóm sản phẩm giá trị cao như tôm hùm trong cơ cấu xuất khẩu.

Tin bài liên quan