Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Thanh Hà đã chia sẻ với Đặc san Toàn cảnh Ngân hàng về định hướng điều hành chính sách tiền tệ, kiểm soát tín dụng và nâng cao vai trò của các ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế.
Năm 2026, nền kinh tế đứng trước yêu cầu vừa đặt mục tiêu tăng trưởng cao trên 10%, vừa kiểm soát lạm phát và bảo đảm ổn định vĩ mô trong bối cảnh rủi ro bên ngoài vẫn hiện hữu. Phó Thống đốc có thể chia sẻ quan điểm điều hành chính sách tiền tệ trong giai đoạn “trạng thái cân bằng khó” này, đặc biệt là cách phối hợp với chính sách tài khóa nhằm tối ưu hóa hiệu quả hỗ trợ nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững?
Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước thời cơ quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, với động lực tăng trưởng đến từ việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó nâng cao năng suất lao động và tạo chuyển biến rõ nét trong phát triển kinh tế - xã hội.
Tại Nghị quyết số 244/2025/QH15 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, Quốc hội đã đề ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt từ 10% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ và thuận lợi, các biến động khó lường của kinh tế toàn cầu đang đặt ra không ít thách thức. Bất ổn địa chính trị, chính sách thuế quan, các biện pháp bảo hộ thương mại làm gián đoạn chuỗi cung ứng, kéo theo chi phí năng lượng, vận tải gia tăng, qua đó gây áp lực lạm phát toàn cầu quay trở lại.
Đối với Việt Nam, tác động của các biến động này đặc biệt đáng lưu ý khi nền kinh tế có độ mở rất lớn, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP thuộc nhóm cao trong khu vực và trên thế giới.
Điều đó khiến công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải xử lý đồng thời nhiều mục tiêu đan xen: vừa ưu tiên kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế cao, vừa giảm thiểu tác động tiêu cực từ các cú sốc bên ngoài tới ổn định vĩ mô; vừa phấn đấu giảm lãi suất, vừa phải giữ ổn định tỷ giá.
Trong bối cảnh đó, quan điểm điều hành nhất quán, xuyên suốt của NHNN là kiên định mục tiêu “ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng bền vững”. Theo đó, điều hành chính sách tiền tệ phải hướng tới hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời kiểm soát lạm phát và giữ vững ổn định vĩ mô, không đánh đổi ổn định để lấy tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn.
Kiên định với mục tiêu này, đồng thời bám sát chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và phát huy bài học kinh nghiệm từ thực tiễn điều hành, NHNN chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ; phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác; phản ứng nhanh, phù hợp với diễn biến kinh tế thế giới và trong nước nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý.
Trước biến động nhanh của mặt bằng lãi suất thị trường sau những diễn biến bất thường từ thị trường quốc tế, ngày 9/4/2026, NHNN đã kịp thời tổ chức làm việc trực tiếp với các NHTM và yêu cầu giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi đối với các giao dịch phát sinh mới ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; đồng thời giảm lãi suất tiền gửi niêm yết và lãi suất cho vay nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp và người dân.
Việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, cùng với linh hoạt sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn, là yếu tố quan trọng giúp giảm chi phí sản xuất, thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng và hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Song song với đó, NHNN chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả; hướng dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo đúng chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro nhằm hạn chế nợ xấu gia tăng.
Việc phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ tích cực giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác là yếu tố then chốt để giải bài toán “mục tiêu kép”: vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao, vừa kiểm soát lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn và chịu nhiều sức ép từ bên ngoài.
Trong phối hợp chính sách, yếu tố cốt lõi là nâng cao chất lượng phối hợp đồng bộ trên cơ sở bám sát diễn biến thực tiễn, chia sẻ thông tin kịp thời, đồng thời phát huy đúng vai trò của từng chính sách để nâng cao hiệu quả thực thi.
Trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ rất hạn hẹp hiện nay, cần ưu tiên thực thi chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm, qua đó giúp chính sách tài khóa thực sự trở thành trụ cột thúc đẩy tăng trưởng cao và bền vững, đồng thời hỗ trợ hiệu quả cho chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát và ổn định vĩ mô.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục thúc đẩy phát triển an toàn, bền vững của thị trường vốn để trở thành kênh cung ứng vốn trung và dài hạn chủ lực cho nền kinh tế, qua đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn cho tăng trưởng trong thời gian tới.
NHNN sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan để triển khai hiệu quả các giải pháp tài khóa, tiền tệ; chủ động trao đổi thông tin về thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu chính phủ, điều hành ngân quỹ nhà nước, tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại hệ thống ngân hàng… nhằm tăng cường hiệu quả phối hợp điều hành giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.
Trong “trạng thái cân bằng khó” hiện nay, điều hành chính sách không chỉ là bài toán kỹ thuật mà còn là nghệ thuật của thời điểm, liều lượng và sự phối hợp.
Với kinh nghiệm điều hành trong thời gian qua và sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tôi tin tưởng ngành ngân hàng nói chung và NHNN nói riêng sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 mà Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã đề ra.
Tín dụng ngân hàng đã phát huy vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế. NHNN sẽ định hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên và kiểm soát rủi ro ra sao để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa hạn chế rủi ro nợ xấu trong trung và dài hạn, thưa Phó Thống đốc?
Bám sát Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, thời gian qua, NHNN đã liên tục triển khai các giải pháp điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, qua đó góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Đầu năm 2026, NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến thực tế, bảo đảm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng. Trước đó, ngày 31/12/2025, NHNN đã công khai, minh bạch nguyên tắc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 để các tổ chức tín dụng chủ động triển khai thực hiện.
Bên cạnh đó, NHNN chỉ đạo các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, qua đó hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng của nền kinh tế, trên cơ sở bảo đảm khả năng thanh khoản và an toàn hoạt động của hệ thống.
Đồng thời, ngành ngân hàng đẩy mạnh triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chủ động thực hiện các nhiệm vụ được giao tại các chương trình hành động triển khai nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, Nhà nước về phát triển các ngành, lĩnh vực, các chương trình mục tiêu quốc gia và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.
NHNN cũng chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng cường rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng nhằm rút ngắn thời gian xét duyệt, tiết giảm chi phí hoạt động, qua đó tạo dư địa giảm lãi suất cho vay và giúp người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi hơn.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Đến ngày 21/4/2026, dư nợ toàn nền kinh tế đạt khoảng 19,3 triệu tỷ đồng, tăng 3,83% so với cuối năm 2025.
![]() |
Việc phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác là yếu tố then chốt để giải bài toán “mục tiêu kép”. |
Về cơ bản, cơ cấu tín dụng đi đúng định hướng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN, trong đó vốn tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.
Một số lĩnh vực ưu tiên chiếm tỷ trọng lớn hoặc có tốc độ tăng trưởng cao như nông nghiệp, nông thôn chiếm 22,31%; doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 19,85%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 17,63%.
Đồng thời, tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro tiếp tục được kiểm soát. Các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục được triển khai mạnh mẽ và đạt kết quả tích cực.
Thời gian tới, để nguồn vốn tín dụng ngân hàng phục vụ kịp thời và hiệu quả hơn cho nền kinh tế, NHNN sẽ tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách và khuôn khổ pháp lý về hoạt động tín dụng ngân hàng.
Đồng thời, NHNN tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng định hướng dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng; kiểm soát chặt tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; đa dạng hóa sản phẩm tín dụng phù hợp với từng loại hình sản xuất - kinh doanh của người dân, doanh nghiệp và hợp tác xã.
Cùng với đó, chú trọng đầu tư tín dụng vào các dự án, công trình trọng điểm có tính khả thi cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; đẩy mạnh chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp; triển khai hiệu quả các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ; nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu gia tăng; tăng cường năng lực thẩm định và kiểm soát nội bộ; ổn định mặt bằng lãi suất và tiếp tục giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ tăng trưởng.
Ngoài ra, NHNN cũng tạo điều kiện để Ngân hàng Chính sách Xã hội thực hiện hiệu quả các chương trình tín dụng ưu đãi; tiếp tục triển khai các nhiệm vụ của ngành ngân hàng trong các chương trình mục tiêu quốc gia và Chiến lược tăng trưởng xanh.
Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đã đặt ra mục tiêu “phấn đấu có ít nhất 3 NHTM nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản”. Theo ông, những giải pháp nào cần tập trung thực hiện để tăng cường nội lực cho các NHTM nhà nước, qua đó phát huy vai trò chủ đạo, chủ lực của nhóm ngân hàng này trong huy động và phân bổ vốn tín dụng, cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước?
Việt Nam đang bước vào một kỷ nguyên phát triển mới, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức “hai con số”, gắn với mô hình tăng trưởng mới và khát vọng trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, nền kinh tế cần một cấu trúc vốn cân bằng hơn giữa tín dụng ngân hàng, thị trường vốn, vốn chủ sở hữu doanh nghiệp và nguồn lực trong dân cư. Quan trọng hơn, không chỉ dừng ở việc huy động vốn, mà phải phân bổ nguồn lực đó một cách hiệu quả, thông minh và có trách nhiệm.
Quan điểm phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng đã được xác lập rõ tại Chiến lược phát triển ngành ngân hàng theo Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 8/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo đó, hệ thống các tổ chức tín dụng, gồm mọi thành phần kinh tế, được đối xử bình đẳng, cạnh tranh theo pháp luật, hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm; trong đó, các tổ chức tín dụng trong nước giữ vai trò chủ lực, chủ đạo trong huy động và phân bổ vốn tín dụng, cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Ðiều hành chính sách tiền tệ phải hướng tới hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời kiểm soát lạm phát và giữ vững ổn định vĩ mô, không đánh đổi ổn định để lấy tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn.
Trong định hướng đó, các NHTM nhà nước được giao sứ mệnh là lực lượng nòng cốt của hệ thống: giữ vai trò chủ đạo về quy mô, thị phần và khả năng điều tiết thị trường; đi đầu trong ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại, quản trị tiên tiến; chủ động hội nhập quốc tế; đồng thời, tích cực tham gia cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém theo chỉ đạo của NHNN.
Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước tiếp tục đặt ra yêu cầu rất rõ ràng: “Phấn đấu có ít nhất 3 NHTM nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản; phát triển 4 NHTM nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị; giữ vai trò chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần và khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống ngân hàng”.
Đây không chỉ là mục tiêu về quy mô, mà còn là yêu cầu chiến lược về năng lực cạnh tranh quốc gia. Đó vừa là cơ hội, vừa là thách thức lớn, đồng thời là trách nhiệm nặng nề, đòi hỏi các NHTM nhà nước phải nỗ lực mạnh mẽ hơn nữa để thực sự phát huy vai trò đầu tàu, dẫn dắt toàn hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam.
Thực tế cho thấy, các NHTM nhà nước đã có bước tiến đáng kể về quy mô tài sản. Năm 2025, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) lần đầu tiên vượt mốc 100 tỷ USD tổng tài sản, với quy mô ước đạt khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 105 tỷ USD.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tiếp tục giữ vị trí ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất Việt Nam, vượt 3,25 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 123 tỷ USD, cùng lợi nhuận trước thuế trên 36.000 tỷ đồng trong năm 2025.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) đạt tổng tài sản khoảng 2,6 triệu tỷ đồng, xấp xỉ 100 tỷ USD. Trong khi đó, tổng tài sản của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) ước đạt khoảng 2,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 95 tỷ USD.
Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan khu vực, khoảng cách vẫn còn rất lớn. Theo số liệu cuối tháng 4/2025 từ báo cáo của S&P Global Market Intelligence, tổng tài sản của Top 5 ngân hàng lớn nhất châu Á dao động từ khoảng 2.600 đến 6.700 tỷ USD.
Theo xếp hạng năm 2025 của Tạp chí The Asian Banker, hiện chưa có ngân hàng Việt Nam nào nằm trong Top 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương xét theo tiêu chí tổng tài sản. Bốn NHTM nhà nước hiện xếp hạng lần lượt: BIDV đứng thứ 101, VietinBank thứ 115, Agribank thứ 123 và Vietcombank thứ 129.
Điều này cho thấy, để bước vào nhóm dẫn đầu khu vực, bài toán không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng tài sản, mà còn ở chất lượng tăng trưởng và nền tảng nội lực.
Việc gia tăng tổng tài sản không đơn thuần là mở rộng quy mô cho vay, mà phải được xây dựng trên sự kết hợp chặt chẽ giữa ba trụ cột: huy động vốn, sử dụng vốn và vùng đệm vốn. Đây là mối quan hệ hữu cơ, mang tính quyết định đối với sự an toàn hệ thống cũng như năng lực tăng trưởng bền vững của mỗi ngân hàng.
Điều kiện tiên quyết là phải kết hợp hài hòa giữa tăng vốn chủ sở hữu với quản trị ngân hàng hiệu quả. Trong vòng 5 năm tới, các NHTM nhà nước vừa phải tăng mạnh quy mô hoạt động, vừa phải bảo đảm các chuẩn mực an toàn vốn, quản trị rủi ro và hiệu quả sinh lời.
Đồng thời, cần có các giải pháp căn cơ cho quá trình chuyển đổi mô hình phát triển, từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu; từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng; từ lợi thế truyền thống sang lợi thế cạnh tranh dựa trên quản trị hiện đại và chuyển đổi số.
Thời gian tới, để tăng cường nội lực cho các NHTM nhà nước, cần tập trung vào một số nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, về phía NHNN: tiếp tục lộ trình tăng vốn điều lệ cho các NHTM nhà nước nhằm nâng cao năng lực tài chính, cải thiện tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động. Đồng thời, nghiên cứu cho phép áp dụng linh hoạt hơn các hình thức tăng vốn như giữ lại lợi nhuận sau thuế và sau trích lập các quỹ; bổ sung vốn từ nguồn thoái vốn nhà nước; phát hành riêng lẻ; phát hành cổ phiếu ưu đãi, kể cả cho người lao động.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế đặc thù phù hợp để các NHTM nhà nước vừa bảo đảm hiệu quả kinh doanh, vừa thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị được giao. Đặc biệt, đổi mới phương thức đánh giá ngân hàng theo hướng không chỉ dựa trên các chỉ tiêu tài chính thuần túy, mà bổ sung các tiêu chí phản ánh vai trò điều tiết thị trường, năng lực chống chịu rủi ro, mức độ hội nhập quốc tế và đóng góp vào ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ hai, về phía các NHTM nhà nước: cần nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đặc biệt là vai trò đầu tàu trong hệ thống ngân hàng. Cần xác định vốn là nền tảng chính sách quan trọng nhất để nâng cao năng lực ổn định thị trường, đáp ứng các chuẩn mực an toàn ngày càng cao và thực thi vai trò điều tiết một cách chủ động, bền vững. Việc tăng cường năng lực tài chính phải được thực hiện đồng thời từ cả nguồn lực nội sinh và nguồn vốn bên ngoài.
Song song với đó, cần chủ động áp dụng các chuẩn mực quản trị hiện đại, nâng cao năng lực quản trị rủi ro; bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình theo chuẩn mực quốc tế.
Một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là xây dựng chiến lược chuyển đổi số toàn diện: số hóa dịch vụ, dữ liệu và quản lý vốn theo thời gian thực; phát triển mạnh các dịch vụ ngân hàng số; mở rộng khả năng cung ứng sản phẩm tài chính trực tuyến tới mọi vùng miền trên cả nước.
Bên cạnh đó, tiếp tục tổ chức, sắp xếp lại mạng lưới theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với mô hình ngân hàng hiện đại.
Cuối cùng, cần đầu tư có trọng điểm vào đội ngũ nhân sự, với các cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ và chi trả đủ sức cạnh tranh nhằm hình thành đội ngũ chất lượng cao - đủ năng lực, đủ động lực và đủ trách nhiệm - đáp ứng yêu cầu thực hiện các mục tiêu chiến lược dài hạn.
Trong bối cảnh cạnh tranh tài chính toàn cầu ngày càng khốc liệt, các NHTM nhà nước không chỉ cần lớn về quy mô, mà còn phải mạnh về nội lực, vững về quản trị và đủ năng lực dẫn dắt thị trường. Đây không chỉ là yêu cầu phát triển của riêng ngành ngân hàng, mà còn là điều kiện quan trọng để bảo đảm an ninh tài chính quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
