Bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital trình bày tham luận tại hội thảo. Ảnh: Dũng Minh

Bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital trình bày tham luận tại hội thảo. Ảnh: Dũng Minh

Chuyên gia Dragon Capital: "Không thể xây dựng nền kinh tế 40 năm bằng nguồn vốn kỳ hạn 12 tháng"

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Theo bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital, quy mô vốn đầu tư giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc kênh dẫn vốn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Tại Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức sáng ngày 15/7/2026, bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital cho rằng Việt Nam đang bước vào một giai đoạn tăng trưởng mới, với nhu cầu vốn lớn chưa từng có.

Theo bà Minh, trong hơn một thập kỷ qua, thị trường tài chính Việt Nam đã đạt những bước tiến quan trọng. Từ giai đoạn năm 2009-2010 khi chỉ số VN-Index dao động quanh vùng 200-300 điểm, thanh khoản thị trường chỉ vài trăm tỷ đồng mỗi phiên, đến nay quy mô thị trường đã thay đổi mạnh mẽ với VN-Index quanh vùng 1.800 điểm và thanh khoản nhiều phiên đạt hàng tỷ USD.

“Tuy nhiên, chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên tăng trưởng mới và cần những dòng vốn lớn chưa từng có. Câu hỏi quan trọng là dòng vốn này sẽ đến từ đâu?”, bà Minh đặt vấn đề.

Nhu cầu 1.500 tỷ USD vốn đầu tư trong 5 năm

Theo đại diện Dragon Capital, mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 đòi hỏi Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao trong nhiều năm, kéo theo nhu cầu đầu tư rất lớn.

Với tỷ lệ đầu tư/GDP khoảng 40%, tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 ước tính lên tới 1.500 tỷ USD. Đây là con số tương đương khoảng 2,5 lần GDP năm 2025 và gấp khoảng 4 lần quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán hiện nay.

“Đây là một con số lớn chưa từng có đối với cả nền kinh tế và thị trường tài chính Việt Nam”, bà Minh nhận định.

Tuy nhiên, theo tính toán của Dragon Capital, kênh tín dụng ngân hàng chỉ có thể đáp ứng khoảng 25-30% nhu cầu vốn trong 5 năm tới. FDI và các dòng vốn đầu tư quốc tế có thể đóng góp thêm khoảng 15-20%.

Như vậy, phần vốn còn thiếu, khoảng 120-150 tỷ USD mỗi năm, cần được bổ sung thông qua các kênh thị trường vốn, bao gồm cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp.

“Chỉ còn 3-5 năm để tiếp tục phụ thuộc vào ngân hàng”

Một trong những nút thắt lớn nhất của nền kinh tế hiện nay là mức độ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Nếu chúng ta muốn xây dựng một nền kinh tế phát triển trong 20-30 năm tới, chúng ta cần những nguồn vốn có thời hạn tương ứng.

Bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital

Theo bà Minh, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức khoảng 146%. Con số này chưa phải cao nhất khu vực, thấp hơn Malaysia hay Thái Lan, nhưng tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn GDP đang khiến dư địa tiếp tục mở rộng ngày càng thu hẹp.

“Nếu tín dụng ngân hàng tiếp tục tăng trưởng 15-16% mỗi năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP thực khoảng 3-5%, chỉ trong vòng 5 năm tới, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam có thể vượt qua Thái Lan và Singapore, trở thành một trong những mức cao nhất châu Á”, bà Minh phân tích và cho rằng, đây chính là lý do Việt Nam cần đẩy nhanh quá trình phát triển thị trường vốn.

“Chúng ta chỉ có thể còn 3 đến 5 năm nữa để tiếp tục phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng mà thôi”, bà Minh nhấn mạnh.

Không chỉ vấn đề về quy mô tín dụng, việc phụ thuộc quá lớn vào vốn ngân hàng còn tạo áp lực lên chi phí vốn của doanh nghiệp.

Theo bà Minh, lãi suất từ đầu năm đã tăng khoảng 2-2,5% đối với chi phí vốn của doanh nghiệp, thậm chí cao hơn đối với một số nhóm doanh nghiệp.

Trong tương lai, khi ngành ngân hàng tiến gần hơn tới các chuẩn mực quốc tế, áp lực về vốn sẽ tiếp tục gia tăng. Việc giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo lộ trình sẽ khiến ngân hàng phải huy động nhiều nguồn vốn dài hạn hơn, đồng nghĩa chi phí vốn có thể tăng lên.

“Không thể xây dựng một nền kinh tế 40 năm bằng nguồn vốn kỳ hạn 12 tháng”, bà Minh dẫn lại một nhận định mà bà cho rằng phản ánh đúng thách thức của các nền kinh tế mới nổi.

Bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital, cho rằng Việt Nam cần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch từ mô hình phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng sang thị trường vốn dài hạn. Ảnh: Dũng Minh

Bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital, cho rằng Việt Nam cần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch từ mô hình phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng sang thị trường vốn dài hạn. Ảnh: Dũng Minh

Cần chuyển vai trò dẫn vốn dài hạn sang thị trường vốn

Theo Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital, tại các nền kinh tế phát triển, ngân hàng vẫn giữ vai trò quan trọng nhưng chủ yếu cung cấp vốn ngắn hạn, vốn lưu động cho doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc tín dụng tiêu dùng.

Trong khi đó, các nhu cầu vốn dài hạn như phát triển hạ tầng, mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ được đáp ứng nhiều hơn thông qua thị trường cổ phiếu và trái phiếu.

Hiện nay, khoảng 75-80% nhu cầu vốn của doanh nghiệp Việt Nam vẫn đến từ hệ thống ngân hàng, trong khi thị trường vốn chỉ đóng góp khoảng 25-30%.

Ngược lại, tại các nền kinh tế phát triển, tỷ trọng tín dụng ngân hàng thường chỉ khoảng 40-50%, phần còn lại đến từ các kênh vốn dài hạn.

Bà Minh cho rằng cổ phiếu là nguồn vốn chủ sở hữu dài hạn nhất, giúp doanh nghiệp có thể đầu tư mà không chịu áp lực trả nợ định kỳ. Trong khi đó, trái phiếu giúp doanh nghiệp huy động vốn với kỳ hạn phù hợp với vòng đời dự án.

Theo mục tiêu phát triển thị trường tài chính, quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam cần hướng tới mức 120% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp cần đạt khoảng 40% GDP. Hiện nay, hai con số này mới lần lượt khoảng 60-70% và 15%.

Hội thảo Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức sáng 15/7 thu hút sự quan tâm lớn của cơ quan quản lý và thành viên thị trường chứng khoán. Ảnh: Dũng Minh

Hội thảo Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức sáng 15/7 thu hút sự quan tâm lớn của cơ quan quản lý và thành viên thị trường chứng khoán. Ảnh: Dũng Minh

Thị trường vốn không chỉ là kênh huy động tiền, mà còn là công cụ phân bổ nguồn lực

Theo bà Đặng Nguyệt Minh, khi nói về tái cấu trúc các kênh dẫn vốn, vấn đề không đơn thuần là tìm thêm nguồn tiền cho nền kinh tế, mà quan trọng hơn là thay đổi cách thức phân bổ nguồn lực.

Với vốn vay ngân hàng, doanh nghiệp luôn chịu áp lực trả lãi và hoàn vốn theo kỳ hạn nhất định. Trong khi đó, vốn cổ phần cho phép doanh nghiệp có thêm nguồn lực để đầu tư dài hạn, mở rộng quy mô, nghiên cứu phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh.

“Vốn chủ sở hữu có một đặc điểm rất quan trọng, đó là doanh nghiệp có thể sử dụng dòng vốn này cho các kế hoạch dài hạn mà không chịu áp lực dòng tiền trả nợ hàng năm”, bà Minh phân tích và cho rằng, đây chính là lý do các nền kinh tế phát triển luôn có sự cân bằng giữa tín dụng ngân hàng và thị trường vốn. Ngân hàng không bị thay thế, nhưng vai trò được điều chỉnh phù hợp hơn với bản chất của từng loại nhu cầu vốn.

Đối với các dự án hạ tầng, chuyển đổi năng lượng, phát triển công nghệ hay mở rộng sản xuất quy mô lớn, nguồn vốn dài hạn từ thị trường chứng khoán và trái phiếu sẽ đóng vai trò quan trọng hơn.

“Nếu chúng ta muốn xây dựng một nền kinh tế phát triển trong 20-30 năm tới, chúng ta cần những nguồn vốn có thời hạn tương ứng”, bà Minh nhấn mạnh.

Kích hoạt dòng vốn nội địa dài hạn

Bên cạnh câu chuyện thu hút vốn ngoại, bà Minh cho rằng Việt Nam cần chú trọng hơn đến việc phát triển nguồn vốn trong nước.

Theo bà, Việt Nam hiện có nhiều lợi thế để thu hút đầu tư như tăng trưởng GDP cao, triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp tích cực, định giá thị trường hấp dẫn, vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu và quá trình nâng hạng thị trường chứng khoán.

Tuy nhiên, nghịch lý là dù có nhiều yếu tố thuận lợi, dòng vốn ngoại trên thị trường chứng khoán vẫn có xu hướng rút ròng trong những năm gần đây.

Một trong những nguyên nhân là cơ cấu hàng hóa trên thị trường chưa đáp ứng đầy đủ khẩu vị của nhà đầu tư quốc tế.

Bà Minh dẫn chứng, nhóm tài chính - ngân hàng và bất động sản hiện chiếm khoảng 68% vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam, trong khi nhóm sản xuất chỉ chiếm khoảng 15%, còn dịch vụ giảm xuống khoảng 11%.

“Nhà đầu tư quốc tế rất thích câu chuyện vĩ mô của Việt Nam, nhưng họ cần những doanh nghiệp để đầu tư. Chúng ta cần nhiều hơn những doanh nghiệp công nghệ cao, sản xuất quy mô lớn và các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao”, bà Minh nói.

Theo bà, bên cạnh cải thiện nguồn cung hàng hóa, Việt Nam cần phát triển mạnh hơn các nhà đầu tư tổ chức trong nước.

Hiện tổng tài sản các quỹ quản lý trong nước khoảng 32 tỷ USD, tương đương 6% GDP, nhưng phần lớn vẫn tập trung vào trái phiếu. Riêng các quỹ mở cổ phiếu chỉ chiếm chưa đến 1% vốn hóa thị trường.

Trong khi đó, tài sản các quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam mới đạt khoảng 81 triệu USD, thấp hơn rất nhiều so với Indonesia hay Ấn Độ.

“Đây là những dòng vốn cần được kích hoạt ngay hôm nay, bởi chúng ta không còn nhiều thời gian để chờ đợi”, bà Minh nhấn mạnh.

Ba giải pháp để tái cấu trúc dòng vốn

Từ góc nhìn Dragon Capital, bà Minh cho rằng quá trình tái cấu trúc nguồn vốn cần tập trung vào ba nhóm giải pháp.

Thứ nhất, về nguồn cung, cần phát triển thêm các doanh nghiệp chất lượng cao, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ, sản xuất và dịch vụ; đồng thời thúc đẩy cổ phần hóa, niêm yết doanh nghiệp nhà nước và nâng cao tính hấp dẫn của thị trường.

Thứ hai, về nguồn cầu, cần thúc đẩy sự phát triển của các quỹ đầu tư trong nước, tạo cơ chế khuyến khích các dòng vốn dài hạn như quỹ hưu trí, quỹ mở.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện hạ tầng và thể chế thị trường vốn, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.

“Việt Nam đã có nền tảng rất mạnh, sự cam kết lớn từ Chính phủ và khả năng tiếp cận thị trường ngày càng được cải thiện. Chúng ta chỉ cần giải quyết hai vấn đề cốt lõi là tăng hàng hóa chất lượng cao và phát triển nhà đầu tư dài hạn”, bà Minh kết luận.

Tin bài liên quan