Dư địa giảm lãi suất phụ thuộc vào “sức khỏe” dòng vốn
Ngày 21/10/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Công văn 9736/NHNN-CSTT, yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi bình quân đối với các giao dịch mới có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên trong những tháng cuối năm. Động thái này tiếp tục hướng tới mục tiêu giảm chi phí vốn cho các ngân hàng, tạo điều kiện để lãi suất cho vay có thêm dư địa điều chỉnh.
Tương quan giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn tiếp tục là yếu tố cần theo dõi khi đánh giá dư địa giảm lãi suất. Đến ngày 26/10/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 20,81 triệu tỷ đồng, tăng 11,94% so với cuối năm 2025 và tăng 16,25% so với cùng kỳ năm trước; huy động vốn đạt gần 19,73 triệu tỷ đồng, tăng tương ứng 11,7% so với cuối năm 2025 và tăng 16,01% so với cùng kỳ. Tín dụng vẫn tăng nhanh hơn huy động vốn, dù chênh lệch về tốc độ không lớn. Trong bối cảnh gần một nửa dư nợ của ngành ngân hàng là các khoản vay trung và dài hạn, việc giảm chi phí cho vay còn gắn với khả năng duy trì nguồn vốn ổn định, quản trị chênh lệch kỳ hạn và kiểm soát rủi ro tín dụng. Đây cũng là những yếu tố quyết định mức độ và tốc độ giảm lãi suất có thể thực hiện trên thực tế.
TS. Nguyễn Văn Lộc, Đại học Phenikaa cho rằng, việc giảm mặt bằng lãi suất là cần thiết, nhất là khi doanh nghiệp cần vốn với chi phí hợp lý để duy trì sản xuất - kinh doanh và mở rộng đầu tư, nhưng mong muốn giảm lãi suất là một chuyện, còn khả năng giảm được bao nhiêu và duy trì trong bao lâu lại phụ thuộc vào những điều kiện thực tế của thị trường. Nếu tín dụng tăng nhanh hơn khả năng huy động nguồn vốn ổn định, cạnh tranh tiền gửi có thể khiến lãi suất huy động khó giảm sâu, thậm chí tăng trở lại ở một số kỳ hạn. Áp lực càng rõ khi ngân hàng cần nguồn vốn trung và dài hạn nhưng tiền gửi chủ yếu có kỳ hạn ngắn. Bởi vậy, giảm lãi suất huy động cần đi cùng khả năng duy trì nguồn vốn ổn định, thay vì chỉ tập trung vào mức điều chỉnh tại một thời điểm.
Một yếu tố khác là độ trễ trong chi phí vốn. Những khoản tiền gửi đã huy động trước đó vẫn được trả lãi theo thỏa thuận đến khi đáo hạn, nên chi phí vốn bình quân không thể giảm ngay tương ứng với lãi suất áp dụng cho các giao dịch mới. Trong khi đó, lãi suất cho vay còn bao gồm chi phí hoạt động và phần bù rủi ro tín dụng. Các khoản vay khó thu hồi, dự án kém hiệu quả hoặc nợ xấu kéo dài có thể làm tăng chi phí dự phòng, hạn chế khả năng giảm lãi suất cho khách hàng.
Từ góc nhìn này, TS. Nguyễn Văn Lộc cho rằng, xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng và cải thiện vòng quay vốn là những giải pháp căn cơ.
“Muốn giảm lãi suất bền vững, không chỉ phải làm cho nguồn vốn đầu vào rẻ hơn, mà còn phải làm cho đồng vốn cho vay quay vòng nhanh hơn, an toàn hơn và tạo ra nhiều giá trị kinh tế hơn”, ông Lộc nhấn mạnh.
Điều đó cũng có nghĩa, khả năng hạ lãi suất không chỉ được quyết định bởi chi phí huy động của ngân hàng, mà còn bởi hiệu quả sử dụng vốn và mức độ rủi ro của các khoản vay trong nền kinh tế.
Phối hợp chính sách để giảm chi phí vốn bền vững
Giảm lãi suất là mục tiêu cần kiên trì, nhưng ổn định kinh tế vĩ mô chính là điều kiện để mục tiêu ấy được thực hiện bền vững.
TS. Nguyễn Văn Lộc, Đại học Phenikaa
Việc điều hành lãi suất phải đảm bảo mục tiêu ổn định tỷ giá và các cân đối vĩ mô.
Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu hạ nhiệt so với đầu tháng 10. Ngày 29/10/2026, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.631 đồng/USD; tại Vietcombank, giá USD bán ra là 26.020 đồng/USD, thấp hơn 150 đồng/USD so với ngày 7/10/2026. Diễn biến này cho thấy áp lực tỷ giá đã dịu bớt so với một số thời điểm đầu tháng 10 nhưng chưa đủ cơ sở để khẳng định thị trường sẽ không xuất hiện những đợt biến động mới.
Theo TS. Nguyễn Văn Lộc, tỷ giá từ nay đến cuối năm có thể tiếp tục biến động trong phạm vi có thể kiểm soát, song vẫn có khả năng tăng trong ngắn hạn khi nhu cầu ngoại tệ gia tăng hoặc thị trường quốc tế xuất hiện diễn biến bất lợi. Các yếu tố cần theo dõi gồm chính sách tiền tệ của Mỹ, sức mạnh đồng USD, cung - cầu ngoại tệ trong nước, dòng vốn quốc tế và tâm lý thị trường.
Những tháng cuối năm, doanh nghiệp có thể tăng nhu cầu USD để nhập khẩu nguyên vật liệu, thanh toán quốc tế và trả nợ nước ngoài. Ở chiều ngược lại, nguồn thu xuất khẩu, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và kiều hối góp phần bổ sung ngoại tệ cho thị trường. Vì vậy, tỷ giá không chỉ phụ thuộc vào cán cân thương mại, mà còn chịu tác động từ dòng vốn và quyết định nắm giữ ngoại tệ của doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Ông Lộc lưu ý rằng, ngay cả khi nền kinh tế xuất siêu, tỷ giá vẫn có thể chịu sức ép nếu dòng vốn tài chính biến động bất lợi hoặc nhu cầu nắm giữ ngoại tệ tăng lên. Kỳ vọng tỷ giá tăng cũng có thể tác động đến hành vi thị trường: doanh nghiệp nhập khẩu mua USD sớm để chủ động thanh toán, trong khi doanh nghiệp xuất khẩu trì hoãn bán ngoại tệ. Những phản ứng này có thể làm cung - cầu ngoại tệ biến động mạnh hơn trong ngắn hạn.
Tỷ giá cũng liên quan trực tiếp đến triển vọng lãi suất thông qua chênh lệch lãi suất giữa VND và USD. Nếu lãi suất VND giảm nhanh, trong khi lãi suất USD vẫn neo ở mức cao, sức hấp dẫn tương đối của đồng Việt Nam có thể suy giảm.
Mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá đặt ra yêu cầu phối hợp các công cụ điều hành để hỗ trợ tăng trưởng mà vẫn duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Khi tỷ giá chịu sức ép, chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc và nghĩa vụ trả nợ ngoại tệ có thể tăng, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Vì vậy, lợi ích từ việc vay vốn với lãi suất thấp hơn cần được nhìn nhận cùng những biến động có thể xảy ra ở chi phí đầu vào và thị trường ngoại hối.
Theo TS. Nguyễn Văn Lộc, ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng không phải những mục tiêu đối lập, nhưng cần được phối hợp thận trọng. Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng các công cụ điều tiết thanh khoản phù hợp nhằm hạn chế biến động bất thường trên thị trường tiền tệ, đồng thời phối hợp với các giải pháp quản lý ngoại hối. Tuy nhiên, hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn không thể thay thế việc xử lý những vấn đề cơ cấu như nợ xấu và hiệu quả phân bổ vốn.
Bên cạnh chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và phát triển thị trường vốn cũng có vai trò quan trọng. Đẩy nhanh đầu tư công hiệu quả, tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho doanh nghiệp và mở rộng các kênh huy động vốn ngoài tín dụng ngân hàng có thể giúp cải thiện khả năng tiếp cận vốn, đồng thời giảm áp lực dồn lên hệ thống ngân hàng. Theo ông Lộc, “giảm lãi suất là mục tiêu cần kiên trì, nhưng ổn định kinh tế vĩ mô chính là điều kiện để mục tiêu ấy được thực hiện bền vững”.
Về triển vọng lãi suất những tháng cuối năm 2026, ông Lộc nghiêng về kịch bản lãi suất khó giảm mạnh, trong khi tỷ giá USD/VND tiếp tục biến động nhưng về cơ bản vẫn trong phạm vi có thể kiểm soát. Một số ngân hàng có thanh khoản tốt có thể tiếp tục giảm lãi suất huy động, song mức độ điều chỉnh sẽ khác nhau tùy khả năng huy động vốn và nhu cầu tín dụng. Với lãi suất cho vay, sự phân hóa giữa các ngân hàng và nhóm khách hàng có thể tiếp tục hiện diện do khác biệt về chi phí vốn và chất lượng tín dụng.
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp cần chủ động cân đối dòng tiền, lựa chọn kỳ hạn vay phù hợp và tính đến khả năng chi phí vốn biến động, thay vì mặc định lãi suất sẽ giảm. Những doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán bằng ngoại tệ cũng cần quan tâm đến rủi ro tỷ giá khi lập kế hoạch tài chính. Với người gửi tiền và người vay vốn, quyết định nên dựa trên nhu cầu thanh khoản, điều kiện lãi suất và khả năng trả nợ, thay vì chỉ nhìn vào mức lãi suất tại một thời điểm.