Khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đối mặt với nhiều khó khăn

Khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đối mặt với nhiều khó khăn

“Điều cần lưu tâm là dòng tiền đang chậm lại”

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Đó là nhận định của TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia kinh tế về những biến số đáng chú ý của thị trường tiền tệ trong những tháng cuối năm.

Khi đề cập đến thị trường tiền tệ những tháng cuối năm, người ta thường hình dung tới áp lực lãi suất và tỷ giá trong mùa cao điểm cầu vốn. Theo ông, trong bối cảnh hiện nay, đây có phải là những vấn đề trọng tâm của thị trường tiền tệ trong nước?

Điều đáng lưu tâm nhất hiện nay không phải là tỷ giá hay lãi suất, mà là dòng tiền của nền kinh tế đang chậm lại. Điều đó thể hiện khá rõ qua diễn biến huy động vốn. Tiền gửi của doanh nghiệp giảm khá mạnh, trong khi tiền gửi của khu vực dân cư cũng tăng chậm hơn trước. Đây là dấu hiệu cho thấy khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn. Khi doanh nghiệp chưa sẵn sàng mở rộng đầu tư và khu vực kinh tế tư nhân chưa lấy lại đà tăng trưởng, dòng tiền cũng khó lưu thông mạnh như trước.

Dòng tiền lưu thông chậm lại sẽ tiếp tục làm gia tăng sức ép về cung - cầu vốn. Các ngân hàng phải cạnh tranh quyết liệt hơn để huy động vốn, kéo theo chi phí vốn khó giảm nhanh. Vì vậy, nếu chỉ nhìn vào biến động của lãi suất hay tỷ giá mà bỏ qua diễn biến của dòng tiền thì sẽ rất dễ đánh giá chưa đúng bản chất của thị trường.

TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia kinh tế

TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia kinh tế

Lãi suất huy động vẫn trong xu hướng tăng, trong khi lãi suất VND kỳ hạn qua đêm trên thị trường liên ngân hàng vừa giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm, diễn biến này phản ánh điều gì?

Khi các ngân hàng không còn quá căng thẳng về nguồn vốn ngắn hạn, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng sẽ giảm. Diễn biến này cho thấy thanh khoản ngắn hạn của hệ thống đã được cải thiện đáng kể, đồng thời phản ánh hiệu quả điều tiết của Ngân hàng Nhà nước.

Tuy nhiên, không nên đồng nhất diễn biến trên thị trường liên ngân hàng với xu hướng của lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Hai thị trường này có mối liên hệ nhưng chịu tác động bởi những yếu tố khác nhau. Lãi suất liên ngân hàng chủ yếu phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng, trong khi lãi suất huy động còn phụ thuộc vào nhu cầu vốn trung và dài hạn cũng như áp lực huy động của từng ngân hàng.

Bên cạnh đó, bối cảnh quốc tế vẫn còn nhiều bất lợi. Giá dầu có xu hướng tăng trở lại do những bất ổn địa chính trị, trong khi USD Index vẫn duy trì ở mức cao. Điều này khiến áp lực lạm phát toàn cầu chưa giảm đáng kể và nhiều ngân hàng trung ương tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất ở mức cao lâu hơn so với kỳ vọng, tạo thêm sức ép đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam.

Phiên 5/8/2026, lãi suất bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,15 - 1,6 điểm phần trăm ở các kỳ hạn ngắn, trong khi giữ nguyên ở kỳ hạn 1 tháng so với phiên trước đó, với giao dịch qua đêm là 4,8%/năm; 1 tuần là 5,6%/năm; 2 tuần là 6,25%/năm và 1 tháng là 7,3%/năm. Đáng chú ý, lãi suất qua đêm bất ngờ lao dốc trong những phiên cuối tháng 7. Từ mức khoảng 13%/năm vào cuối tháng 6/ hạ xuống còn khoảng 6 - 6,5%/năm vào đầu tháng 7, trước khi tiếp tục giảm mạnh về 2,5%/năm, rồi 1%/năm và chốt phiên 30/7 ở mức 0,75%/năm. Trong khi đó, lãi suất các kỳ hạn dài hơn lại diễn biến theo chiều ngược lại, cho thấy thanh khoản ngắn hạn của hệ thống khá dồi dào, nhưng nhu cầu vốn ở các kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.

Đó là điểm cần được nhìn nhận đầy đủ. Thanh khoản ngắn hạn được cải thiện là tín hiệu tích cực, nhưng như vậy chưa đủ để mặt bằng lãi suất giảm bền vững. Muốn mặt bằng lãi suất giảm bền vững trước hết phải cải thiện khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng và quan trọng hơn là khơi thông dòng tiền trở lại khu vực sản xuất - kinh doanh. Nếu doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn, tiền gửi doanh nghiệp tiếp tục suy giảm trong khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động thì sức ép cạnh tranh nguồn vốn giữa các ngân hàng sẽ còn kéo dài. Khi đó, lãi suất huy động khó giảm mạnh và lãi suất cho vay cũng sẽ có rất ít dư địa để giảm sâu.

Vì vậy, từ nay đến cuối năm, tôi cho rằng, mặt bằng lãi suất có thể ổn định hơn so với giai đoạn trước, nhưng sẽ khó giảm nhanh nếu bài toán dòng vốn của nền kinh tế chưa được cải thiện.

Bên cạnh những vấn đề trong nước, môi trường kinh tế quốc tế cũng đang có nhiều biến động. Những yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến việc điều hành chính sách tiền tệ trong những tháng cuối năm?

Theo số liệu của Cục Hải quan, lũy kế 7 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%; nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8%. Qua đó, 7 tháng đầu năm, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 20,52 tỷ USD, trái ngược với mức xuất siêu 10,35 tỷ USD cùng kỳ năm 2025.

Đồng USD vẫn ở mức cao và việc cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu chắc chắn sẽ tạo ra áp lực nhất định, nhưng áp lực đó chưa đến mức quá lớn và Ngân hàng Nhà nước vẫn còn đủ dư địa cũng như công cụ để điều hành.

Điều cần lưu ý là không nên chỉ nhìn tỷ giá từ diễn biến của cán cân thương mại. Cán cân thương mại chỉ là một trong nhiều yếu tố tác động đến tỷ giá. Tỷ giá còn chịu tác động của diễn biến của đồng USD, dòng vốn đầu tư nước ngoài, cán cân thanh toán tổng thể cũng như cách thức điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Vì vậy, nếu cơ quan điều hành tiếp tục phản ứng linh hoạt như thời gian qua, những biến động của tỷ giá vẫn nằm trong tầm kiểm soát.

Tuy nhiên, xét ở góc độ điều hành, tôi vẫn cho rằng, áp lực tỷ giá chưa phải là rủi ro lớn nhất. Điều đáng quan tâm hơn là sức khỏe của nền kinh tế trong nước. Khi khu vực doanh nghiệp phục hồi, đầu tư tư nhân khởi sắc và dòng tiền quay trở lại sản xuất - kinh doanh thì nền tảng của thị trường tiền tệ sẽ vững hơn. Khi đó, áp lực đối với cả lãi suất và tỷ giá cũng sẽ giảm đi một cách tự nhiên.

Ông nhiều lần nhấn mạnh rằng điều đáng lưu tâm nhất hiện nay là dòng tiền của nền kinh tế đang chậm lại. Vậy, đâu là điều kiện tiên quyết để dòng vốn quay trở lại khu vực sản xuất - kinh doanh?

Muốn dòng tiền quay trở lại thì trước hết phải khôi phục niềm tin của khu vực doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ vay vốn khi nhìn thấy cơ hội mở rộng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nếu thị trường đầu ra còn khó khăn, đơn hàng chưa phục hồi hoặc doanh nghiệp vẫn có tâm lý chờ đợi thì dù lãi suất có giảm thêm, nhu cầu tín dụng cũng khó tăng mạnh. Gốc của vấn đề không nằm ở lãi suất, mà ở triển vọng của nền kinh tế và niềm tin của doanh nghiệp.

Chính sách tiền tệ thời gian qua đã được Ngân hàng Nhà nước điều hành khá linh hoạt, vừa hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống, vừa giữ ổn định thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, để dòng tiền thực sự lưu thông thì chính sách tiền tệ không thể một mình giải quyết mọi vấn đề. Cần có sự phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa, đẩy mạnh đầu tư công, cải thiện môi trường kinh doanh và tạo thêm động lực cho khu vực kinh tế tư nhân.

Doanh nghiệp không chỉ cần vốn. Điều quan trọng hơn là phải có thị trường, có đơn hàng và có niềm tin để mở rộng đầu tư. Khi sản xuất - kinh doanh phục hồi thì dòng tiền sẽ tự nhiên quay trở lại nền kinh tế.

Khi vốn trong nền kinh tế được khơi thông, nhiều áp lực của thị trường tiền tệ cũng sẽ tự nhiên được giải tỏa.

Tin bài liên quan