Thị trường cho sản phẩm công nghệ chiến lược: Khi Nhà nước làm “khách hàng đầu tiên”

0:00 / 0:00
0:00
Nhà nước không chỉ đóng vai trò xây dựng thể chế hay tài trợ kinh phí nghiên cứu thuần túy, mà cần chuyển mạnh sang vai trò “người mua đầu tiên” để kiến tạo thị trường ban đầu cho các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Việt Nam đặt mục tiêu sẽ làm chủ nhiều công nghệ chiến lược

Việt Nam đặt mục tiêu sẽ làm chủ nhiều công nghệ chiến lược

Bệ phóng từ những đơn hàng quốc gia

Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử trong chiến lược tự chủ công nghệ. Theo Quyết định 1493/QĐ-TTg, ngày 6/8/2026, mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam sẽ làm chủ 4 công nghệ và thương mại hóa 15 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có ít nhất 5 sản phẩm vươn tầm ra thị trường khu vực hoặc quốc tế. Tầm nhìn đến năm 2035 tiếp tục nâng mốc kỳ vọng: làm chủ 6 công nghệ chiến lược, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 25 sản phẩm với tỷ lệ nội địa hóa từ 40% trở lên. Trong đó, đòi hỏi tối thiểu 30 doanh nghiệp trong nước tham gia và ít nhất 10 doanh nghiệp có sản phẩm công nghệ chiến lược hiện diện trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhưng mục tiêu cuối cùng không nằm ở những con số trên văn bản. Quyết tâm lớn nhất lúc này là phấn đấu từ nay đến cuối năm 2026 “phải có một vài sản phẩm về công nghệ chiến lược”. Để hiện thực hóa khát vọng này, Nhà nước xác định sẽ đóng vai trò “khách hàng đầu tiên” đối với một số sản phẩm công nghệ chiến lược thông qua cơ chế đặt hàng và hỗ trợ triển khai thực tế. Đây được xem là bước chuyển có tính bản lề: từ hỗ trợ nghiên cứu thuần túy sang phát triển công nghệ gắn chặt với nhu cầu ứng dụng và đầu ra thị trường.

Thực tế, những đơn hàng đầu tiên đã lộ diện. Bộ Công an đặt hàng AI camera phục vụ giám sát; Bộ Xây dựng đặt hàng giải pháp quản lý giao thông; Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao nhiệm vụ về thiết bị bay không người lái (UAV); Bộ Công thương đặt hàng robot di động tự hành để tối ưu logistics. Các nhiệm vụ đều yêu cầu lộ trình thương mại hóa rõ ràng, không còn dừng ở nghiên cứu thuần túy.

Một bước triển khai quan trọng đã diễn ra vào ngày 31/8/2026, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) công bố kế hoạch đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược. Nhiệm vụ đầu tiên được đưa ra là “Nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ đội robot di động tự hành ứng dụng trong vệ sinh môi trường đô thị”.

Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất vẫn là đầu ra. Ông Hoàng Anh Tú, Phó vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho rằng: “Sản phẩm công nghệ nếu không được triển khai trong thực tiễn sẽ khó hoàn thiện và thương mại hóa. Việc Nhà nước đóng vai trò khách hàng đầu tiên, đặt hàng sản phẩm công nghệ chiến lược sẽ tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ lõi và từng bước giảm phụ thuộc nhập khẩu”.

Để những đơn hàng đó thực sự trở thành sản phẩm và tạo ra năng lực công nghệ, cách thức tổ chức và quản trị các nhiệm vụ cũng đang được thay đổi theo hướng thực chất hơn. Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nêu rõ “ba yêu cầu cốt lõi” trong triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược thời gian tới.

Thứ nhất, quản lý theo kết quả đầu ra thay vì nặng về thủ tục. “Công nghệ chiến lược không thể quản lý bằng tư duy hành chính thông thường. Hệ thống văn bản mới được thiết kế để chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra, khoán chi, sản phẩm và mốc tiến độ. Chúng ta sẽ trao quyền chủ động tối đa cho đơn vị thực hiện, gắn với đó là cơ chế giải trình minh bạch”, ông Định nhấn mạnh.

Thứ hai, bắt đầu từ nhu cầu thực tế thay vì đề xuất nhiệm vụ. Chương trình không tìm kiếm nhiệm vụ đơn thuần mà hướng đến tìm lời giải cho những vấn đề công nghệ của đất nước. Người thực hiện phải trả lời được câu hỏi: Việt Nam cần làm chủ công nghệ chiến lược gì, sản phẩm chiến lược cuối cùng là gì và doanh nghiệp nào sẽ là lực lượng chủ đạo. Do nguồn lực Nhà nước có hạn, các nhiệm vụ cần tập trung vào những khâu thị trường chưa thể tự giải quyết. Doanh nghiệp được yêu cầu tham gia thực chất ngay từ khâu xác định nhiệm vụ.

Thứ ba, kết quả phải được đo bằng năng lực công nghệ thực tế. Báo cáo hay bài báo khoa học chỉ là phương tiện; năng lực làm chủ công nghệ và sản phẩm ứng dụng mới là đích đến. Các đơn vị cần chú trọng tốc độ, bởi công nghệ thay đổi từng ngày.

Tạo đầu ra, doanh nghiệp sẽ tự vận động

“Khi có thị trường tiêu thụ rõ ràng, doanh nghiệp sẽ tự bỏ vốn đầu tư nghiên cứu và phát triển. Nhà nước ban hành quy định, thị trường sẽ lập tức hình thành. Thay vì cho tiền đầu vào để nghiên cứu, hãy tạo đầu ra cho sản phẩm, khi đó doanh nghiệp sẽ tự tối ưu để cạnh tranh”, Chủ tịch Viettel Tào Đức Thắng chia sẻ.

Ông Thắng đề xuất cơ chế “voucher”, hỗ trợ phía cầu để người mua lựa chọn sản phẩm công nghệ trong nước. Khi đó, doanh nghiệp buộc phải làm ra sản phẩm tốt, cạnh tranh thực sự. Đối với những công nghệ nền tảng và mang tính tương lai như vệ tinh, bán dẫn hay công nghệ hạt nhân - nơi thị trường đầu ra chưa hình thành, Nhà nước vẫn cần đóng vai trò đầu tư để nâng cao tiềm lực quốc gia.

Tổng giám đốc FPT Nguyễn Văn Khoa đề xuất, Chính phủ cần xây dựng các liên minh công nghệ quốc gia để giải quyết những bài toán lớn. Trong mô hình này, Chính phủ thiết lập cơ chế đặt hàng và giao trách nhiệm cho các tập đoàn đủ năng lực. Mỗi chương trình công nghệ chiến lược cần có một cơ quan chịu trách nhiệm, một doanh nghiệp làm hạt nhân, kết hợp cùng các trường đại học, viện nghiên cứu và đối tác quốc tế.

Về phần mình, Tổng giám đốc VNPT Huỳnh Quang Liêm kiến nghị ba nội dung trọng tâm.

Một là, thiết lập cơ chế quốc gia đặt hàng bài toán công nghệ lớn. Mỗi năm lựa chọn một số bài toán trọng điểm, giao doanh nghiệp Việt Nam làm đầu mối, xác định rõ sản phẩm đầu ra, nguồn lực và trách nhiệm, tránh chia nhỏ, phân tán.

Hai là, hình thành thị trường đầu tiên cho sản phẩm công nghệ Việt Nam: các cơ quan nhà nước ưu tiên thử nghiệm và sử dụng sản phẩm chiến lược trong nước nếu đáp ứng tiêu chuẩn, đánh giá tổng thể chi phí vòng đời thay vì chỉ giá đầu tư ban đầu.

Ba là, quản trị chương trình theo kết quả đầu ra: xác định ngay từ đầu sản phẩm, thị trường và mốc đo được; phân bổ nguồn lực theo kết quả; phân biệt rõ rủi ro khoa học với chậm tiến độ hay sử dụng nguồn lực không hiệu quả.

Ở khía cạnh khác, Chủ tịch CMC Nguyễn Trung Chính nhấn mạnh thách thức lớn nhất hiện nay là khâu triển khai. CMC là một trong 7 doanh nghiệp được lựa chọn đồng hành với Chính phủ. Tuy nhiên, việc định hình vai trò cụ thể cho từng doanh nghiệp đối với mỗi mũi nhọn công nghệ vẫn cần được làm rõ hơn. Trong khi bán dẫn đã bước đầu được định vị, các công nghệ khác chưa có sự phân công rõ ràng.

Ông Chính đề xuất, với mỗi công nghệ chiến lược, cơ quan quản lý cần xác định rõ các nhiệm vụ cụ thể, sau đó tổ chức tuyển chọn doanh nghiệp phù hợp để giao nhiệm vụ. Đây là điều kiện tiên quyết để tháo gỡ khó khăn hiện nay và chuyển các cam kết thành hành động cụ thể. Ông dẫn kinh nghiệm quốc tế, Huawei (Trung Quốc), Samsung (Hàn Quốc) đều được giao vai trò dẫn dắt trong chiến lược công nghệ quốc gia. Việt Nam cần sớm xây dựng cơ chế tuyển chọn và giao nhiệm vụ rõ ràng cho các doanh nghiệp công nghệ có năng lực.

“Khi được giao nhiệm vụ, doanh nghiệp phải cam kết hoàn thành, Nhà nước cần có cơ chế hậu kiểm, sau 18 tháng không hoàn thành, cần xác định rõ cách xử lý. Nếu hoàn thành tốt, cần có cơ chế khuyến khích tương xứng”, ông Chính nói thêm.

Tại cuộc họp Chính phủ mới đây, Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành tiếp tục tập trung vào những lĩnh vực trọng điểm chưa có nhiệm vụ triển khai, đồng thời rà soát việc tổ chức thực hiện giữa các nhóm, bảo đảm mỗi nhiệm vụ được giao đều có phương án triển khai phù hợp. Phó thủ tướng giao các bộ, cơ quan liên quan khẩn trương triển khai những nhiệm vụ còn bỏ ngỏ và báo cáo trong tháng 9/2026. Tinh thần chung là quyết liệt hơn, khẩn trương hơn, phấn đấu đến cuối năm 2026 có một vài sản phẩm công nghệ chiến lược.

Con đường phía trước không bằng phẳng, nhưng khi Nhà nước xác định rõ vai trò “khách hàng đầu tiên”, khi doanh nghiệp được giao nhiệm vụ rõ ràng, khi cơ chế tài chính gắn với kết quả và chấp nhận rủi ro khoa học, thì đầu ra sẽ không còn là điểm nghẽn, mà trở thành động lực.

Từ những đơn hàng đầu tiên về AI camera, UAV, robot tự hành, đến những liên minh công nghệ quốc gia đang hình thành, Việt Nam đang từng bước viết lại câu chuyện làm chủ công nghệ chiến lược - không phải bằng khẩu hiệu, mà bằng sản phẩm cụ thể, bằng thị trường thực và bằng năng lực tự chủ thực sự.

Tin bài liên quan