Thưa ông, trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, đâu là những giải pháp trọng tâm cần được nhấn mạnh để thúc đẩy tăng trưởng?
Trước hết, cần tiếp tục phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng truyền thống gồm đầu tư, tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Trong đó, đầu tư công phải đóng vai trò dẫn dắt, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ thông qua các dự án hạ tầng quy mô lớn như hệ thống đường cao tốc, sân bay, cảng biển.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cần duy trì mức vốn thực hiện bình quân khoảng 30 tỷ USD mỗi năm, đồng thời chú trọng hơn đến chất lượng dòng vốn, khả năng lan tỏa công nghệ và liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước. Song song với đó, cần thúc đẩy tiêu dùng nội địa thông qua cải cách chính sách tiền lương theo hướng phù hợp với năng suất lao động và mức sống.
![]() |
Chuyên gia kinh tế, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân |
Riêng với xuất khẩu, Việt Nam cần nâng tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) từ khoảng 31% hiện nay lên mức 40-45% vào năm 2030; tiếp tục ký kết các hiệp định mới, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, hướng tới tốc độ tăng trưởng thương mại bình quân ít nhất 15%/năm và đưa kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD.
Bên cạnh các động lực truyền thống, cần quyết liệt tạo lập các động lực tăng trưởng mới thông qua đầu tư lớn cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc phát huy vai trò của các trung tâm tài chính quốc tế cùng với sự hình thành và phát triển thị trường tài sản số sẽ góp phần mở rộng nguồn vốn với chi phí thấp cho nền kinh tế. Ngoài ra, phát triển mạnh lực lượng doanh nghiệp vẫn là yêu cầu không thể thiếu trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên các động lực mới đang được nhấn mạnh. Vậy cần làm gì để khai thác hiệu quả các động lực đó?
Việc khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới sẽ giúp Việt Nam chuyển từ mô hình tăng trưởng cũ theo chiều rộng, dựa nhiều vào tài nguyên, lao động giá rẻ và xuất khẩu với tỷ lệ nội địa hóa thấp, sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển xanh.
Khi mô hình tăng trưởng mới vận hành ổn định, chúng ta sẽ từng bước hình thành mô hình phát triển mới cho giai đoạn tiếp theo. Nói cách khác, khi có thể chế phát triển mới, chúng ta sẽ có mô hình phát triển mới.
Theo tôi, ưu tiên đầu tiên và quan trọng nhất là phải tăng chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) từ mức 0,45% GDP hiện nay lên khoảng 1,5-2% GDP. Đây là điều kiện then chốt để huy động và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào các ngành công nghệ chiến lược mà Việt Nam đã xác định như công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo. Tại Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và các văn bản liên quan, khung cơ chế cơ bản đã có, vấn đề hiện nay là tiếp tục hoàn thiện, bổ sung và nâng cấp để triển khai hiệu quả hơn.
Tiếp theo, cần khuyến khích khu vực doanh nghiệp tư nhân và khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể tham gia mạnh mẽ hơn vào đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học - công nghệ. Nhà nước cần có thêm các chính sách ưu đãi về thuế, phí và tín dụng để tạo động lực cho khu vực này đầu tư cho công nghệ và nâng cao năng lực nội tại.
Ngoài ra, cần tăng cường khai thác các mô hình kinh tế mới như kinh tế tuần hoàn, kinh tế ban đêm, kinh tế tri thức, kinh tế đại dương xanh, kinh tế carbon… nhằm mở rộng không gian tăng trưởng cho nền kinh tế.
Việt Nam đã cho phép thí điểm hai trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng. Ông đánh giá thế nào về vai trò của mô hình này?
Việc cho phép thử nghiệm trung tâm tài chính quốc tế là một định hướng rất đúng và có ý nghĩa chiến lược, tạo động lực quan trọng cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Nếu được vận hành bài bản và hiệu quả, tôi cho rằng, trong vòng 20 năm tới, trung tâm tài chính quốc tế của Việt Nam hoàn toàn có thể nằm trong Top 15 trung tâm tài chính lớn trên thế giới.
Định hướng đã có, vấn đề hiện nay là lựa chọn mô hình phù hợp để vừa thử nghiệm, vừa học hỏi. Theo tôi, trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam nên gắn với các công cụ tài chính truyền thống như ngoại hối, cổ phiếu, trái phiếu quốc tế; đồng thời cho phép thử nghiệm sớm các công cụ tài chính mới như chứng khoán số, tiền mã hóa, chứng chỉ carbon và các công cụ tài chính xanh. Đây sẽ là lợi thế cạnh tranh quan trọng trong việc thu hút dòng vốn quốc tế.
Kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng mới. Theo ông, cần ưu tiên những giải pháp nào để khu vực này phát triển mạnh hơn?
Năm nay, kinh tế tư nhân chắc chắn sẽ có bước phát triển mạnh mẽ hơn. Với Nghị quyết 68-NQ/TW, theo tôi, cần sớm ban hành Luật Phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có cơ chế phù hợp để chuyển đổi các hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã và cả những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả sang mô hình doanh nghiệp tư nhân, đi kèm với các chính sách ưu đãi rõ ràng.
Chúng ta đều biết, động lực cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới là nâng cao năng suất lao động, năng lực nội tại và đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), cũng như khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, năng suất lao động hiện vẫn đang là một “điểm nghẽn” lớn của Việt Nam.
Việc Đại hội Đảng XIV xác định mục tiêu TFP đóng góp trên 55% vào tăng trưởng kinh tế, cùng với mục tiêu tăng năng suất lao động bình quân khoảng 8,5%/năm, cho thấy yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển đã trở nên hết sức cấp thiết. Điều này phản ánh vai trò ngày càng quyết định của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong việc tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Theo ông, đâu là những ưu tiên then chốt để doanh nghiệp có thể thụ hưởng chính sách một cách thực chất?
Để doanh nghiệp thực sự được thụ hưởng chính sách, việc đầu tiên và quan trọng nhất là phải cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng minh bạch, rõ ràng; giảm chi phí phi chính thức; hạn chế việc sử dụng các công cụ hành chính và đẩy mạnh số hóa quy trình.
Thực tế cho thấy, dù thời gian qua chúng ta đã cắt giảm nhiều thủ tục hành chính, nhưng ở không ít nơi, thủ tục vẫn còn phiền hà, thiếu đồng bộ, vừa yêu cầu hồ sơ giấy, vừa yêu cầu hồ sơ số. Để khắc phục, cần làm quyết liệt hơn: quy định nào đã bãi bỏ thì phải bãi bỏ thực chất; quy định nào cản trở doanh nghiệp hoặc có nhiều cách hiểu thì cần mạnh dạn loại bỏ.
Bên cạnh đó, cần có chiến lược ưu đãi để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận đất đai, khu công nghiệp một cách bình đẳng hơn. Hiện khu vực tư nhân đóng góp khoảng 50% GDP nhưng mới chỉ tiếp cận khoảng 20% quỹ đất, điều này cần được điều chỉnh trong thời gian tới.
Về dài hạn, điều quan trọng nhất vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô, minh bạch hóa môi trường kinh doanh, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp có nhiều lựa chọn mô hình kinh doanh, tối ưu hóa lợi ích, giảm chi phí, rút ngắn thời gian và tăng khả năng kết nối với chuỗi giá trị toàn cầu.
Một điểm quan trọng khác là chú trọng đến đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp. Phải có cơ chế sàng lọc, lựa chọn và đãi ngộ xứng đáng các tài năng trong kinh doanh và công nghệ nhằm thu hút lao động chất lượng cao.
Chính phủ sẽ sớm ban hành các nghị quyết, chương trình hành động để hiện thực hóa chỉ đạo của Trung ương. Theo ông, các văn bản này cần tập trung vào đâu để chính sách đi vào cuộc sống?
Theo tôi, điểm then chốt là phải chuyển các chủ trương, chính sách thành các quy trình vận hành cụ thể, rõ ràng cho từng bước công việc, đồng thời đẩy mạnh phân cấp cho địa phương.
Các địa phương, đặc biệt là những địa phương có cơ chế đặc thù, cần nhanh chóng quy trình hóa việc áp dụng chính sách theo điều kiện thực tiễn của mình. Cùng với đó, phải ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn, chuẩn bị tốt các nguồn lực về tài chính, nhân sự và cơ chế phân bổ nguồn lực. Các chính sách về thuế, lãi suất cần mang tính khuyến khích rõ nét hơn.
Quan trọng hơn, cần thiết kế một hệ thống chính sách thống nhất giữa Trung ương và địa phương, để các chính sách của Trung ương có thể “tự động vận hành” xuống địa phương với tốc độ nhanh nhất. Trong bối cảnh phân cấp mạnh mẽ, chính quyền địa phương phải hoạt động hiệu quả hơn, gắn kết chặt chẽ với các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, qua đó giúp chính sách nhanh chóng đi vào thực tiễn và phát huy hiệu quả.
