Đề xuất thu phí qua eo biển Hormuz đang làm gia tăng rủi ro mới trên thị trường dầu

Đề xuất thu phí qua eo biển Hormuz đang làm gia tăng rủi ro mới trên thị trường dầu

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Kể từ khi xung đột Trung Đông nổ ra, các hãng vận tải biển đã kêu gọi tăng cường bảo vệ để tàu hàng có thể đi qua Eo biển Hormuz an toàn. Tổng thống Donald Trump cho biết, Mỹ sẵn sàng cung cấp sự bảo vệ này, nhưng sẽ thu phí 20% đối với hàng hóa vận chuyển qua tuyến đường huyết mạch.

“Kể từ thời điểm này, nước Mỹ sẽ được biết đến với vai trò là ‘Người bảo vệ eo biển Hormuz’. Với vai trò đó, và để bảo đảm công bằng, Mỹ sẽ được hoàn trả toàn bộ chi phí cần thiết cho nhiệm vụ bảo đảm an toàn và an ninh tại khu vực đầy biến động này, thông qua việc thu phí ở mức 20% đối với mọi lô hàng vận chuyển qua eo biển”, Tổng thống Trump cho biết trên Truth Social hôm 13/7.

Đề xuất này của Tổng thống Trump đang làm gia tăng rủi ro đối với triển vọng dư cung dầu toàn cầu, đặc biệt nếu xung đột tái bùng phát và tuyến vận tải huyết mạch này tiếp tục bị gián đoạn. Theo các chuyên gia, điều đáng lo ngại không nằm ở bản thân mức phí, mà ở tín hiệu cho thấy nguy cơ gián đoạn nguồn cung đang tăng lên, có thể đảo ngược các dự báo về tình trạng dư cung dầu được đưa ra chỉ mới đầu tháng.

Tuy nhiên, đề xuất này đã đặt ra một số câu hỏi về tính hợp pháp và tính khả thi.

Theo John McCown, chuyên gia cao cấp tại Trung tâm Chiến lược Hàng hải, mọi người cần biết chi phí là bao nhiêu để đánh giá xem họ có muốn sử dụng dịch vụ này hay không. Trong bất kỳ trường hợp nào, phí có thể sẽ đủ cao đến mức không bên nào sẵn lòng trả.

Ông cũng cho biết mức phí vận chuyển thông thường chỉ vào khoảng 2–3% giá trị hàng hóa, do đó mức phí 20% sẽ là gánh nặng tài chính mà hầu hết các chủ hàng không thể chấp nhận.

Tuy nhiên, các công ty bảo hiểm có thể sẽ có tiếng nói cuối cùng, vì họ có thể từ chối bảo hiểm cho các tàu đi qua eo biển Hormuz nếu họ cho rằng rủi ro an ninh quá cao, bất kể chủ tàu có sẵn sàng trả tiền để được bảo vệ bởi luật Mỹ hay không.

Andy Lipow, Chủ tịch của Lipow Oil Associates cho biết, thị trường đã kỳ vọng vào nguồn cung mạnh hơn sau bản ghi nhớ hợp tác giữa Mỹ và Iran được ký kết tháng trước, nhưng sự lạc quan đó đã giảm dần.

“Nguồn cung dư thừa đó chắc chắn đang gặp nguy hiểm, đặc biệt nếu eo biển bị đóng cửa hoàn toàn”, ông cho biết.

Ông ước tính rằng mức phí đề xuất của Tổng thống Trump, nếu áp dụng cho các lô hàng dầu thô, sẽ làm tăng thêm khoảng 16 USD/thùng dầu vận chuyển qua eo biển Hormuz, mặc dù chính quyền vẫn chưa làm rõ cách thức thực hiện khoản phí này.

Citi cảnh báo, việc áp dụng phí này cũng có thể làm tăng khả năng xảy ra một cuộc đối đầu quân sự rộng hơn trong thời gian ngắn.

“Theo đánh giá của chúng tôi, nguy cơ xung đột quân sự leo thang sẽ gia tăng đáng kể nếu đề xuất này được triển khai… Khả năng chính quyền Iran rút khỏi biên bản ghi nhớ và trì hoãn mọi thỏa thuận cho đến sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ đã tăng lên. Trong kịch bản đó, giá dầu nhiều khả năng sẽ duy trì ở mức cao trong thời gian dài hơn”, các chuyên gia phân tích của Citi cho biết.

Trong khi mức phí được đề xuất sẽ làm tăng chi phí vận chuyển, các chuyên gia khác cho biết các nhà đầu tư ngày càng tập trung vào khả năng một cuộc xung đột leo thang có thể loại bỏ hoàn toàn dầu khỏi thị trường.

“Tác động trước mắt rõ ràng là hỗ trợ giá dầu, nhưng vấn đề quan trọng hơn là nguy cơ thiếu hụt nguồn cung vật chất tái diễn”, Henry Hoffman, đồng quản lý danh mục đầu tư tại Quỹ Cơ sở hạ tầng Năng lượng Catalyst cho biết.

Lưu lượng tàu giảm

Ông Hoffman cảnh báo, nếu lưu lượng tàu qua eo biển Hormuz tiếp tục giảm, các nhà sản xuất dầu có thể buộc phải cắt giảm sản lượng khi các kho chứa đầy lên do dầu thô không thể xuất khẩu.

Dữ liệu từ Kpler cho thấy lưu lượng tàu qua eo biển Hormuz đã giảm mạnh trong ngày 12/7, với chỉ 14 tàu đi qua tuyến hàng hải này, trong đó có 4 tàu chở dầu thô, so với 37 tàu của cùng ngày một tuần trước.

Nếu các nhà xuất khẩu không thể vận chuyển dầu thô ra khỏi vùng Vịnh, các bể chứa cuối cùng có thể đầy, khiến các nhà sản xuất không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tạm thời ngừng sản xuất. “Điều đó khiến tổn thất nguồn cung thực tế có thể lớn hơn nhiều so với những gì có thể đo lường chỉ bằng cách nhìn vào cơ sở hạ tầng bị hư hại”, ông Hoffman cho biết.

Những diễn biến mới nhất cũng làm suy yếu kỳ vọng của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) và các tổ chức khác rằng thị trường dầu mỏ toàn cầu sẽ vẫn được cung cấp đầy đủ. Mới tuần trước, IEA dự kiến ​​thị trường dầu mỏ sẽ trở lại trạng thái dư cung vào cuối năm 2026, mặc dù triển vọng này phụ thuộc vào sự phục hồi dần dần của lưu lượng tàu chở dầu qua eo biển.

Trong khi đó, thời điểm này có thể đặc biệt khó khăn nếu nhu cầu của châu Á phục hồi đúng lúc nguồn cung từ Trung Đông trở nên kém ổn định hơn.

“Ả Rập Xê Út gần đây đã chuyển giá dầu thô loại chủ lực từ mức giá cao ngất ngưởng sang mức giá thấp hơn, điều này sẽ khuyến khích các nhà máy lọc dầu Trung Quốc tăng cường mua sau khi nhập khẩu giảm mạnh trong thời gian gián đoạn ban đầu”, ông Hoffman cho biết.

Saudi Aramco gần đây đã giảm giá bán dầu thêm 11 USD/thùng, đưa mức giá xuống thấp hơn 1,50 USD/thùng so với giá dầu tham chiếu Oman/Dubai.

“Nói cách khác, nhu cầu từ Trung Quốc có thể bắt đầu phục hồi đúng vào thời điểm độ tin cậy của nguồn cung dầu từ Trung Đông lại đang suy giảm”, ông Hoffman cho biết.

Tin bài liên quan