Tín dụng bị kéo căng
Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 khoảng 15% để hỗ trợ kinh tế (thấp hơn mức gần 20% của năm 2025), nhưng giới phân tích kinh tế - tài chính cho rằng, dư địa điều hành chính sách tiền tệ đang thu hẹp đáng kể, khiến khả năng mở rộng tín dụng không còn nhiều.
TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia tài chính cũng chỉ ra áp lực về thanh khoản do sự chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng - huy động vốn.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính tới 28/4/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025; tăng 18,26% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong khi đó, tổng huy động vốn toàn hệ thống ngân hàng vẫn tăng rất chậm, khiến nguồn vốn huy động bằng VND của hệ thống đang “hụt” khoảng 2 triệu tỷ đồng so với nhu cầu tăng trưởng tín dụng.
Trước đó, cuối năm 2025, trong khi tín dụng dự kiến tăng 19% thì huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,11%. Theo ông Lực, nếu xu hướng này tiếp tục kéo sang năm 2026, hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào trạng thái căng thẳng hơn.
Một trong những rủi ro nội tại là tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đang ở mức cao, vượt 140% vào cuối năm 2025 và có thể tiếp tục gia tăng nếu tín dụng duy trì tốc độ tăng mạnh.
Bên cạnh đó, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, áp lực về hệ số an toàn vốn (CAR) cũng là rào cản cho việc mở rộng tín dụng.
Theo quy định, để tăng thêm 1 đồng dư nợ, ngân hàng cần bổ sung thêm khoảng 0,1 đồng vốn chủ sở hữu. Hiện nhóm 4 ngân hàng thương mại nhà nước đang gặp khó khăn trong việc tăng vốn do dư địa không còn nhiều và phụ thuộc lớn vào việc giữ lại lợi nhuận. Khi các ngân hàng lớn khó mở rộng quy mô vốn, khả năng cung ứng tín dụng của toàn hệ thống khó tránh khỏi bị ảnh hưởng.
Theo ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước, lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng cao do cầu vốn tăng mạnh, phản ánh sự mất cân đối khi tăng trưởng huy động vốn hiện thấp hơn tín dụng khoảng 2-3%.
Đáng chú ý, cơ cấu vốn cũng đang gặp bất cập với 80% vốn huy động là ngắn hạn, trong khi 50% dư nợ cho vay là trung, dài hạn, khiến rủi ro kỳ hạn luôn hiện hữu đối với ngân hàng.
Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển thị trường vốn và các kênh huy động khác để giảm bớt áp lực lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Ngân hàng Nhà nước năm 2026 là phải vừa đảm bảo tăng trưởng tín dụng ở mức phù hợp để hỗ trợ nền kinh tế, vừa duy trì mặt bằng lãi suất thấp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp.
Theo ông Quang, dù đã duy trì được mục tiêu này trong suốt năm 2025 và các tháng đầu năm 2026, nhưng áp lực huy động vốn và tác động từ bên ngoài vẫn khiến mặt bằng lãi suất gia tăng.
Ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu Thị trường và Kinh tế toàn cầu, UOB Singapore cho rằng, với kết quả tăng trưởng mạnh mẽ năm 2025, triển vọng khả quan cho 2026, Ngân hàng Nhà nước không có nhiều dư địa để nới lỏng chính sách ở thời điểm này. Trong khi đó, áp lực lạm phát vẫn hiện hữu.
Theo ông Teck Kin, hệ thống ngân hàng đang phải gánh phần lớn vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế. Số liệu thống kê cho thấy, quy mô thị trường tài chính Việt Nam đã vượt 300% GDP, nhưng khối ngân hàng lại chiếm đến 90% quy mô cung ứng vốn, trong khi ở các quốc gia khác tỷ lệ này chỉ khoảng 35-40%.
Sự phụ thuộc quá lớn vào kênh tín dụng ngân hàng khiến hệ thống dễ tổn thương trước các cú sốc thanh khoản. Khi “chiếc áo” tín dụng ngân hàng trở nên chật chội, việc tìm kiếm những kênh cung vốn mới là yếu tố tiên quyết.
Không thể chỉ trông vào tín dụng
Các chuyên gia cho rằng, dư địa chính sách tiền tệ năm 2026 không còn nhiều, đòi hỏi tái cấu trúc nguồn vốn để duy trì tăng trưởng.
TS. Châu Đình Linh, Đại học Ngân hàng TP.HCM nhận định, chính sách tiền tệ năm 2026 nhiều khả năng sẽ theo hướng “nới lỏng có kiểm soát”, ưu tiên sự linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống.
“Trọng tâm của chính sách trong giai đoạn này sẽ đi theo hướng nới lỏng nhưng có kiểm soát. Thay vì chạy theo mục tiêu giảm lãi suất bằng mọi giá - một hướng đi tiềm ẩn nhiều rủi ro về bong bóng tài sản hoặc gây áp lực lên tỷ giá, cơ quan điều hành sẽ ưu tiên tính ổn định và thanh khoản của hệ thống”, ông Linh nhấn mạnh.
Khi "chiếc áo" tín dụng ngân hàng trở nên chật chội, việc tìm kiếm những không gian tăng trưởng mới là yếu tố tiên quyết.
Năm 2026, nền kinh tế không chỉ phải giải bài toán tăng trưởng cao, mà còn tái cấu trúc mô hình tăng trưởng. Chỉ khi thị trường vốn (trái phiếu, cổ phiếu) phát triển xứng tầm, các kênh dẫn vốn dài hạn quốc tế được khai thông, áp lực lên hệ thống ngân hàng mới được giải tỏa, từ đó tạo không gian mới cho chính sách tiền tệ điều hành hiệu quả và bền vững hơn.
Theo các chuyên gia, thay vì để ngân hàng chiếm 90% nguồn cung vốn, Việt Nam cần đưa tỷ trọng này về mức tối đa 40%. Nguồn vốn từ thị trường trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu phải được nâng lên mức 25-27%. Để làm được điều này, cần có cơ chế xếp hạng tín nhiệm chặt chẽ, đa dạng hóa “hàng hóa” trên thị trường, thúc đẩy lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán để thu hút dòng vốn quốc tế.
PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia tài chính - kinh tế nhận định, khi tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đang ở mức cao, tăng trưởng không nên chỉ dựa vào cung tín dụng mà phải dựa vào hiệu quả sử dụng vốn. Điều này đòi hỏi tái cấu trúc nguồn lực tài chính, trong đó ngân hàng chỉ là một trụ cột, thay vì trụ cột duy nhất.
Về giải pháp căn cơ, ông Thịnh cho rằng, cần phát triển mạnh thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp cần phải tạo dựng lại niềm tin để cung cấp nguồn vốn trung, dài hạn; đồng thời thúc đẩy các kênh tài chính bền vững như tài chính xanh nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cũng cho hay, nhu cầu vốn cho nền kinh tế là rất lớn, nhưng khả năng hấp thụ vốn của một số khu vực, lĩnh vực còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp, nhất là SME vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng.
Việc mở rộng tín dụng phải gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát rủi ro, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống. Cùng với đó, kinh tế, thương mại, tài chính toàn cầu tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định, khó lường, tạo thêm sức ép cho công tác điều hành.
Theo ông Phạm Chí Quang, dư địa chính sách tiền tệ không còn nhiều khi áp lực lạm phát toàn cầu vẫn hiện hữu, trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn như Fed có thể duy trì mặt bằng lãi suất cao lâu hơn dự kiến. Điều này sẽ tác động tới dòng vốn, tỷ giá và dư địa điều hành của Việt Nam.
Tại Việt Nam, Chính phủ, Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, không chỉ năm 2026 mà còn trong cả giai đoạn 5 năm tới. Mục tiêu kép vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng cao là thách thức lớn đối với nhà điều hành.
Vì vậy, mục tiêu xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước thời gian tới là phải tiếp tục kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tạo dư địa hỗ trợ tăng trưởng trong phạm vi cho phép của chính sách tiền tệ. Động lực để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số cần đến từ đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và nâng cao năng suất lao động.
Chính sách tài khóa sẽ giữ vai trò mở rộng và dẫn dắt, trong khi chính sách tiền tệ đóng vai trò hỗ trợ, bổ trợ, để neo giữ kỳ vọng về kiểm soát lạm phát cũng như ổn định kinh tế vĩ mô.