Khơi thông dòng vốn và cải thiện môi trường đầu tư được kỳ vọng tạo thêm động lực để doanh nghiệp mở rộng sản xuất - kinh doanh

Khơi thông dòng vốn và cải thiện môi trường đầu tư được kỳ vọng tạo thêm động lực để doanh nghiệp mở rộng sản xuất - kinh doanh

Để doanh nghiệp cùng “nhấn ga” tăng trưởng

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Việt Nam chỉ có thể đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số khi có thêm nhiều dự án đầu tư, đơn hàng và lợi nhuận thực chất của doanh nghiệp. Điều cộng đồng doanh nghiệp chờ đợi lúc này không chỉ là dòng vốn lớn được khơi thông, mà còn là một môi trường đầu tư ổn định, minh bạch, nhất quán và có tính dự báo.

Kích hoạt nguồn vốn lớn cho tăng trưởng

OECD trong Báo cáo “Khảo sát kinh tế OECD: Việt Nam 2025” cho biết, vốn đóng góp tới 62% tăng trưởng sản lượng giai đoạn 2010-2022 và khuyến nghị Việt Nam cần đẩy nhanh cải thiện năng suất trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo để đạt mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.

Tuy nhiên, cải thiện năng suất lao động và năng lực công nghệ thường cần thời gian dài mới phát huy hiệu quả. Trong ngắn hạn, vốn đầu tư - có thể được huy động và phân bổ nhanh hơn - vẫn là công cụ khả thi nhất để duy trì tốc độ tăng trưởng cao.

Bộ Tài chính ước tính nền kinh tế cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2030 để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Trong khi đó, ngân sách chỉ đáp ứng khoảng 8,5 triệu tỷ đồng; phần còn lại phải huy động từ khu vực tư nhân, thị trường vốn và các nguồn lực bên ngoài.

Chính phủ và các bộ, ngành đã liên tiếp ban hành nhiều chính sách nhằm khơi thông ba “kênh dẫn vốn” chủ lực của nền kinh tế gồm tín dụng ngân hàng, đầu tư công và thị trường vốn.

Từ phía Nhà nước, Chính phủ liên tục yêu cầu đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, phát huy vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp lớn, qua đó tạo thêm đơn hàng cho doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng và khu vực kinh tế tư nhân. Số liệu của Bộ Tài chính cho thấy, đến hết tháng 6/2026, giải ngân đầu tư công ước đạt khoảng 350.000 - 370.000 tỷ đồng, đạt 32 - 33% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn cùng kỳ năm 2025.

Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, Chuyên gia chính sách công, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, đầu tư công năm nay có hai điểm mới.

Thứ nhất, Chính phủ ưu tiên phát triển hạ tầng chiến lược, đặc biệt là các dự án phát triển đô thị gắn kết với giao thông công cộng (TOD), qua đó thu hút FDI chất lượng cao và thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia đầu tư.

Thứ hai, Chính phủ mạnh dạn giao khu vực tư nhân triển khai một số dự án đầu tư công theo cơ chế phù hợp, với điều kiện cam kết đầu tư vào khoa học - công nghệ, phát triển hoặc tiếp nhận công nghệ lõi để lan tỏa sang các doanh nghiệp khác.

Một nền kinh tế có thể gia tăng quy mô vốn trong vài năm, nhưng chỉ môi trường đầu tư ổn định, minh bạch, chi phí thấp và có khả năng dự báo mới đủ tạo niềm tin để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho cả một chu kỳ tăng trưởng.

Trong lĩnh vực tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước đang “nắn dòng” tín dụng theo hướng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như sản xuất, hạ tầng, nhà ở xã hội, các dự án trọng điểm có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa. Định hướng này được cụ thể hóa thông qua các chính sách ưu tiên tín dụng cho nhà ở xã hội, khu công nghiệp và các dự án hạ tầng trọng điểm.

Tuy nhiên, đầu tư công chỉ đóng vai trò là “vốn mồi” và nền kinh tế cũng không thể dựa hoàn toàn vào tín dụng ngân hàng trong một chu kỳ tăng trưởng dài hạn. Vì vậy, phát triển thị trường vốn - từ cổ phiếu, trái phiếu đến quỹ đầu tư và IPO - được xem là yêu cầu cấp thiết. Bà Trịnh Quỳnh Giao, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Quản lý quỹ PVI (PVI AM) khẳng định, chúng ta không thiếu tiền, vấn đề là làm thế nào để dẫn dòng vốn vào các kênh đầu tư dài hạn.

Tại Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức sáng 15/7/2026, bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu, Dragon Capital cho biết, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn tăng trưởng mới. Tuy nhiên, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức khoảng 146%, được đánh giá là cao và tiềm ẩn rủi ro do vốn tín dụng phần lớn là ngắn hạn nhưng lại cho vay dài hạn.

Theo bà Minh, việc phụ thuộc quá lớn vào vốn ngân hàng tạo áp lực lên chi phí vốn của doanh nghiệp. Vì vậy, bà khuyến nghị chuyển vai trò dẫn vốn dài hạn sang thị trường vốn, bằng cách phát triển thêm các doanh nghiệp chất lượng cao, thúc đẩy cổ phần hóa và nâng cao tính hấp dẫn của thị trường.

Cùng với phát triển thị trường vốn trong nước, việc FTSE Russell công bố nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên nhóm thị trường mới nổi từ tháng 9/2026 và Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 về phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được kỳ vọng tạo thêm sức hút đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao, đồng thời mở rộng dư địa để doanh nghiệp trong nước tiếp cận các nguồn lực phát triển.

Kỳ vọng thể chế tiếp tục mở đường

Theo các chuyên gia, nếu dòng vốn là điều kiện cần để mở rộng đầu tư thì chất lượng thể chế mới quyết định hiệu quả chuyển hóa nguồn lực thành tăng trưởng. Quy mô vốn càng lớn, càng đòi hỏi thể chế thông thoáng, ổn định và có tính dự báo.

Một nền kinh tế có thể gia tăng nguồn lực trong vài năm, nhưng chỉ môi trường đầu tư ổn định, minh bạch, chi phí thấp và có khả năng dự báo mới đủ tạo niềm tin để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho cả một chu kỳ tăng trưởng.

Thực tế cho thấy, dù môi trường kinh doanh đã xuất hiện nhiều tín hiệu tích cực sau các chủ trương cải cách lớn gần đây, song doanh nghiệp vẫn rất thận trọng với kế hoạch mở rộng đầu tư do những khó khăn về thị trường, tiếp cận vốn và tính nhất quán của chính sách.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, cả nước có gần 170.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động; riêng số doanh nghiệp thành lập mới tăng 22,5% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, Báo cáo Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh năm 2025 (PCI 2025) cho thấy tâm lý mở rộng đầu tư vẫn khá dè dặt khi chỉ có 30,9% doanh nghiệp được khảo sát dự kiến mở rộng quy mô sản xuất - kinh doanh trong hai năm tới.

PCI 2025 cũng chỉ ra ba trở ngại lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay là: tìm kiếm khách hàng, tiếp cận tín dụng và khó dự báo chính sách.

Ông Phạm Ngọc Thạch, Phó trưởng ban Pháp chế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá, cải cách thể chế vẫn là dư địa hỗ trợ doanh nghiệp lớn nhất hiện nay. Theo đó, cần tiếp tục quyết liệt cắt giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa các quy định về thuế, kế toán, hóa đơn điện tử, đồng thời tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn pháp lý để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Từ thực tiễn hoạt động, nhiều doanh nghiệp kiến nghị, giai đoạn hiện nay, Chính phủ cần ưu tiên nâng cao chất lượng thực thi chính sách tạo động lực để doanh nghiệp mạnh dạn “nhấn ga” tăng trưởng.

Ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc (mã KBC) nhận định, chưa bao giờ chính sách và thể chế của Việt Nam tốt như hiện nay. Tuy nhiên, để củng cố niềm tin thị trường và thu hút dòng vốn dài hạn, việc hoàn thiện thể chế cần đi vào chiều sâu, thúc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa để bổ sung thêm nguồn cung cổ phiếu chất lượng cho thị trường. Ngoài ra, một số chính sách thực tế vẫn cần điều chỉnh linh hoạt hơn. Đơn cử như lĩnh vực du lịch dù đang được khuyến khích phát triển, nhưng các dự án xây dựng khách sạn, khu nghỉ dưỡng vẫn gặp rất nhiều rào cản trong việc tiếp cận dòng vốn tín dụng dài hạn.

Ở góc độ xuất khẩu, ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam chia sẻ, ngành gỗ từng duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong nhiều năm, với kỳ vọng sớm vượt mốc 20 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, song hiện đang chịu áp lực rất lớn từ các biện pháp thuế quan và phòng vệ thương mại phức tạp từ thị trường Mỹ.

Theo ông Hoài, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào gia công và phụ thuộc vào một vài thị trường xuất khẩu truyền thống đã bộc lộ giới hạn rõ rệt. Ông đề xuất Chính phủ sớm có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tự thiết kế, phát triển thương hiệu riêng, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm tăng khả năng chống chịu trước những biến động địa chính trị toàn cầu.

Trong khi đó, ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam (VACC) phản ánh, các điểm nghẽn lớn nhất của doanh nghiệp ngành xây dựng hiện nay vẫn tập trung ở khâu định giá đất, quy hoạch, giải phóng mặt bằng, hệ thống định mức và đơn giá xây dựng chưa sát thực tế. Ông Hiệp kiến nghị các bộ, ngành cần nhanh chóng tháo gỡ đồng bộ các nút thắt này để tránh làm ách tắc nguồn lực đầu tư xã hội.

Đại diện VACC ghi nhận những nỗ lực cải cách vượt bậc của Chính phủ thời gian qua, song thẳng thắn cho rằng chất lượng xây dựng chính sách cần tiếp tục được nâng cao, tránh tình trạng một số nghị định phải sửa đổi, bổ sung sau một thời gian ngắn áp dụng, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc dự báo và hoạch định kế hoạch kinh doanh dài hạn.

Tin bài liên quan