Việc “chốt đơn” mua trả góp của khách hàng không còn dễ dàng như giai đoạn trước.

Việc “chốt đơn” mua trả góp của khách hàng không còn dễ dàng như giai đoạn trước.

Huy động vốn giảm tạo áp lực lên lãi suất tiền gửi

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Mức chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng - huy động vốn tiếp tục nới rộng, kết hợp với diễn biến lạm phát tăng do hiệu ứng truyền dẫn của giá xăng dầu khiến mặt bằng lãi suất ở thời điểm này và phần còn lại của năm 2026 khó có thể giảm mạnh.

Lãi suất khó giảm

Sau động thái giảm nhẹ lãi suất nửa cuối tháng 5 vừa qua, một số ngân hàng đã điều chỉnh tăng trở lại, dù mức tăng khá khiêm tốn.

Chẳng hạn, TPBank điều chỉnh tăng 0,1 điểm phần trăm đối với các khoản tiền gửi trực tuyến kỳ hạn từ 1-3 tháng. Bac A Bank và một số ngân hàng khác có động thái tăng lãi suất ở một số kỳ hạn.

Khảo sát thị trường hiện nay cho thấy, hiện vẫn có 8 ngân hàng niêm yết lãi suất từ 7%/năm trở lên, chủ yếu áp dụng cho tiền gửi trực tuyến hoặc các khoản tiền gửi đặc biệt có giá trị rất lớn.

Dẫn đầu là PVcomBank với mức lãi suất đặc biệt 10%/năm cho kỳ hạn 12-13 tháng, áp dụng với khách hàng gửi từ 2.000 tỷ đồng trở lên. MSB với mức 9%/năm dành cho các khoản tiền gửi từ 500 tỷ đồng trở lên.

Trong nhóm ngân hàng số và ngân hàng thương mại có mức lãi suất cao, Cake by VPBank đang triển khai chương trình ưu đãi giúp lãi suất thực nhận tối đa có thể đạt 8,9%/năm đối với khách hàng gửi tiết kiệm lần đầu.

Vikki Bank áp dụng mức lãi suất 7,9%/năm cho khoản tiền gửi từ 999 tỷ đồng trở lên, kỳ hạn 13 tháng. Ngoài ra, Saigonbank cũng duy trì mức 7,9%/năm cho tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 13 tháng; MBV áp dụng 7%/năm cho tiền gửi trực tuyến kỳ hạn từ 6 - 36 tháng.

Động thái điều chỉnh lãi suất của các nhà băng trên diễn ra chỉ ít ngày sau khi một số ngân hàng giảm lãi suất huy động ở một số kỳ hạn đầu tháng 6/2026. Trước đó, trong tháng 5, nhiều ngân hàng đồng loạt điều chỉnh biểu lãi suất huy động.

Mới đây, MB cũng công bố giảm lãi suất huy động với các kỳ hạn dài. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 12 - 24 tháng giảm 0,1-0,2%/năm. Lãi suất các kỳ hạn dưới 12 tháng được giữ nguyên.

Ngoài ra, từ ngày 26/5, lãi suất tiết kiệm tại quầy cũng được điều chỉnh giảm ở một số kỳ hạn. Các mức lãi suất ưu đãi lên tới 9 - 9,1%/năm của Vikki Bank cũng không còn được nhà băng này áp dụng. Lãi suất cao nhất tại ngân hàng này là 8,7%/năm cho kỳ hạn từ 6 tháng đến 13 tháng (áp dụng với khoản tiền gửi từ 200 triệu đồng trở lên).

Diễn biến trên cho thấy thị trường đang xuất hiện những điều chỉnh cục bộ giữa các ngân hàng nhằm cân đối nguồn vốn, song xu hướng chủ đạo vẫn là duy trì hoặc giảm nhẹ lãi suất.

Nhận định về triển vọng thời gian tới, các chuyên gia phân tích của Chứng khoán Vietcombank (VCBS) cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động có thể tiếp tục giảm thêm khoảng 30-50 điểm cơ bản trong quý II/2026, chủ yếu ở các kỳ hạn trung và dài hạn, phù hợp với định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước, nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp, song khó giảm sâu.

TS. Lê Xuân Nghĩa - chuyên gia tài chính cho rằng, bên cạnh yếu tố kỳ vọng lãi suất thấp, việc siết chặt quản lý thuế và kê khai tài sản cũng khiến một phần dòng tiền dịch chuyển khỏi hệ thống ngân hàng. Sự dịch chuyển dòng tiền đang góp phần làm gia tăng tổng cầu của nền kinh tế, đặc biệt tại các thị trường tài sản như chứng khoán và bất động sản.

Theo ông Nghĩa, ở Việt Nam, khoảng 40% tín dụng bất động sản dành cho đầu tư, còn 60% cho người mua nhà. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào ngân hàng thì rất rủi ro, chưa đảm bảo tính bền vững.

Còn thị trường vàng đang bị chi phối bởi các yếu tố địa chính trị và tâm lý đầu tư hơn là giá trị nội tại. Giá vàng có thể tăng mạnh nhưng cũng có thể giảm nhanh nếu tình hình thay đổi.

TS. Lê Xuân Nghĩa dẫn chứng, dù nhà đầu tư nước ngoài liên tục bán ròng trên thị trường chứng khoán trong hơn hai năm qua, thị trường vẫn duy trì được đà tăng nhờ dòng tiền trong nước tham gia mạnh mẽ. Điều này cho thấy một lượng vốn đáng kể từ khu vực dân cư đang tìm kiếm các kênh đầu tư thay thế, thay vì gửi tiết kiệm như trước.

Để thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư, TS. Châu Đình Linh - Trường đại học Ngân hàng TP.HCM cũng cho rằng, ngân hàng bắt buộc phải duy trì lãi suất huy động ở mức "thực dương", tức là lãi suất tiền gửi phải cao hơn tỷ lệ lạm phát.

Hiện nay, lạm phát đã tiệm cận mức 4% và dự báo có thể vượt ngưỡng 4,5% vào cuối năm do các yếu tố "chi phí đẩy" từ giá năng lượng và hàng hóa nhập khẩu. Do đó, lãi suất huy động khó có thể thấp hơn mức lạm phát này và rất khó để giảm sâu.

Để giữ chân khách hàng, buộc các nhà băng duy trì mặt bằng lãi suất ổn định từ 7-8%/năm cho các kỳ hạn dài.

Trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước đồng thời phải thực hiện nhiều mục tiêu: kiểm soát lạm phát, hỗ trợ giảm lãi suất, ổn định thị trường ngoại hối nên dư địa chính sách tiền tệ hiện nay không còn nhiều, theo các chuyên gia tài chính - ngân hàng, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giới, cần phát huy mạnh hơn vai trò chính sách tài khóa.

Dòng tiền dịch chuyển

Nhiều năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng, quy mô huy động vốn bằng VND đang thấp hơn quy mô tín dụng khoảng 2 triệu tỷ đồng.

Điều này cho thấy tăng trưởng tín dụng đang vượt khả năng huy động vốn của các tổ chức tín dụng. Đây cũng là nguyên nhân khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tạo lập nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế.

Dư địa chính sách tiền tệ hiện nay không còn nhiều, vì vậy, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần phát huy mạnh hơn vai trò của chính sách tài khóa.

Thực tế, báo cáo tài chính quý I/2026 cho thấy, huy động vốn của nhiều ngân hàng sụt giảm một phần do chính sách không tính tiền gửi ngân sách nhà nước vào tổng huy động, nhưng phần lớn đến từ sự dịch chuyển của dòng tiền sang các kênh đầu tư có kỳ vọng sinh lời cao hơn: vàng, chứng khoán, các phân khúc bất động sản như chung cư hay đất nền.

Tuy tiền gửi ngân hàng vẫn là kênh chủ đạo, nhưng để đảm bảo tính thanh khoản và tối ưu hóa lợi nhuận, ngân hàng không thể giảm lãi suất đột ngột mà phải cố gắng giữ ổn định để chi trả cho các hợp đồng tiền gửi cũ đến hạn.

Trong báo cáo vĩ mô mới công bố, các nhà phân tích ACBS cho biết, chênh lệch giữa tăng trưởng huy động và cho vay tiếp tục nới rộng trong tháng 5. Cụ thể, tăng trưởng tín dụng đạt 5,7% so với đầu năm trong khi huy động tăng 2,98%.

Theo đánh giá từ các nhà phân tích ACBS, mức chênh lệch tiếp tục nới rộng kết hợp với việc lạm phát tăng tốc do hiệu ứng truyền dẫn của giá xăng dầu, khiến mặt bằng lãi suất ở thời điểm này và ở phần còn lại của năm 2026 khó có thể hạ nhiệt. Đây cũng là nguyên nhân khiến thanh khoản hệ thống ngân hàng chịu áp lực ngày từ đầu năm 2026.

Trước đó, theo số liệu công bố từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến 28/4/2026, tín dụng đã tăng 4,42% so với cuối năm 2025 trong khi huy động vốn tăng rất chậm, khiến huy động vốn đang "hụt" 2 triệu tỷ đồng so với tăng trưởng tín dụng.

Các chuyên gia ACBS cho rằng, mức chênh lệch tiếp tục nới rộng kết hợp với việc lạm phát liên tục tăng tốc do hiệu ứng truyền dẫn của giá xăng dầu, khiến mặt bằng lãi suất ở thời điểm khó có thể hạ nhiệt ở phần còn lại của năm 2026.

Các nhà phân tích tài chính cũng đưa ra giả định rằng, trong kịch bản khả quan, Ngân hàng Nhà nước sẽ cân nhắc các biện pháp nới lỏng chính sách về chỉ số an toàn thanh khoản và điều kiện ưu đãi cho dự án trọng điểm (đầu tư công, nhà ở xã hội...) trong khi đồng thời duy trì vùng lãi suất danh nghĩa không thấp để duy trì sự ổn định của tỷ giá và lạm phát.

Trên thị trường liên ngân hàng tháng 5/2026, lãi suất có xu hướng gia tăng trên toàn dải trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước chủ động duy trì khối lượng lưu hành RRP trên kênh thị trường mở (OMO) quanh ngưỡng 300.000 tỷ đồng.

TS. Châu Đình Linh cũng cho rằng, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% năm nay là không dễ dàng. “Một trong những dấu hiệu cần lưu tâm nhất là tỷ lệ tín dụng trên GDP hiện đã vượt ngưỡng 140%. Trong khi đó, chuẩn an toàn thông thường cho chỉ số này chỉ nên duy trì quanh mức 90%”, ông Linh nhấn mạnh.

Trong khi đó, TS. Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ tài chính, Ngân hàng Nhà nước nhận định, một trong những thách thức lớn nhất hiện nay đó là áp lực lạm phát đang gia tăng dưới tác động của xung đột Trung Đông khiến giá dầu và giá nhiên liệu thế giới tăng mạnh.

Ngoài lạm phát, Việt Nam cũng đang đối mặt nguy cơ nhập siêu trở lại sau nhiều năm. Trong 4 tháng đầu năm 2026, nền kinh tế đã bắt đầu xuất hiện xu hướng nhập siêu.

Điều này kéo theo áp lực đối với tỷ giá, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước đồng thời phải thực hiện nhiều mục tiêu: kiểm soát lạm phát, hỗ trợ giảm lãi suất, ổn định thị trường ngoại hối. Trong bối cảnh hiện nay, Ngân hàng Nhà nước khẳng định, ưu tiên lớn nhất của ngành là giữ ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Dư địa chính sách tiền tệ hiện nay không còn nhiều, vì vậy, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ông Lân cho rằng, cần phát huy mạnh hơn vai trò của chính sách tài khóa.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa cùng các giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô khác rất cần thiết nhằm vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tạo dư địa cho tăng trưởng trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam.

Tin bài liên quan