Sacombank ước tính lợi nhuận quý II/2026 giảm khoảng 50% so với cùng kỳ do chi phí dự phòng tăng vọt

Sacombank ước tính lợi nhuận quý II/2026 giảm khoảng 50% so với cùng kỳ do chi phí dự phòng tăng vọt

Nợ xấu “ăn mòn” lợi nhuận nhiều nhà băng

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK)  Bên cạnh nhiều ngân hàng báo lãi tăng trưởng ấn tượng, vẫn có những nhà băng ghi nhận lợi nhuận sụt giảm mạnh, thậm chí thua lỗ trong quý II/2026.

NIM giảm, chi phí dự phòng tăng

Saigonbank báo lãi trước thuế nửa đầu năm đạt 48 tỷ đồng, giảm tới 72% so với cùng kỳ năm trước. Riêng quý II/2026, ngân hàng này lỗ trước thuế 40 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước lãi 76 tỷ đồng. Nguyên nhân thua lỗ được Saigonbank lý giải là do sự sụt giảm thu nhập từ phần lớn các mảng kinh doanh chính. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh quý II/2026 giảm hơn 62% do biên lãi ròng (NIM) mỏng đi khi lãi suất huy động tăng, kết hợp với chi phí dự phòng rủi ro tăng 62,4% so với cùng kỳ (với hơn 64 tỷ đồng).

Trong khi đó, Eximbank ghi nhận lợi nhuận trước thuế nửa đầu năm giảm 51% so với cùng kỳ, ước đạt 730 tỷ đồng. Riêng quý vừa qua, Ngân hàng báo lãi trước thuế 392 tỷ đồng, tương ứng giảm 40% so với cùng kỳ.

Đến thời điểm này, Sacombank chưa công bố báo cáo tài chính quý II/2026, nhưng thông tin được Ngân hàng đưa ra, trong quý vừa qua, NIM bị thu hẹp, nợ xấu tăng vọt, lợi nhuận trước thuế dự kiến chỉ đạt khoảng 1.900 - 2.000 tỷ đồng, giảm xấp xỉ 50% so với cùng kỳ và tiếp nối đà giảm kể từ đầu năm nay.

Theo ông Loic Faussier, Tổng giám đốc Sacombank, đại hội đồng cổ đông Ngân hàng thống nhất mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận năm nay ở mức khiêm tốn là 6,2%, thể hiện rõ quan điểm của Ngân hàng về việc đi chậm lại, đặc biệt trong bối cảnh vĩ mô năm 2026 chịu áp lực lớn về lạm phát, tỷ giá và dư địa hạ lãi suất hẹp dần. Ông Faussier cho rằng, nhìn tích cực thì đây cũng là khoảng thời gian để Ngân hàng tiếp tục xử lý các tồn đọng và củng cố nội lực, thay vì chạy đua tăng trưởng nóng.

LPBank đã công bố báo cáo tài chính quý II/2026 với lợi nhuận trước thuế đạt 5.973 tỷ đồng, giảm 3% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là trong khi lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh đạt 7.525 tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ thì chi phí dự phòng rủi ro lên tới 1.552 tỷ đồng, cao gấp 2,3 lần cùng kỳ.

ACB cũng nằm trong nhóm ngân hàng suy giảm lợi nhuận trong quý II/2026. Cụ thể, trong quý vừa qua, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng của nhà băng này đạt 6.427 tỷ đồng, giảm 2% so với cùng kỳ. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh từ 463 tỷ đồng lên 1.060 tỷ đồng. Sau trích lập dự phòng, lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng đạt 5.366 tỷ đồng, giảm 11,9% so với cùng kỳ.

Quý vừa qua, VietABank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 318 tỷ đồng, giảm 12,2% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chính là chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng vọt từ 5 tỷ đồng lên 96 tỷ đồng. Tuy nhiên, lợi nhuận lũy kế 6 tháng đầu năm của Ngân hàng vẫn ghi nhận mức tăng trưởng 15,7%.

Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản của VietABank đạt 149.131 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cuối năm 2025; cho vay khách hàng đạt 96.199 tỷ đồng, tăng 8,4%; tiền gửi khách hàng đạt 104.045 tỷ đồng, tăng 5%; dự phòng rủi ro cho vay khách hàng đạt 1.177 tỷ đồng, tăng 10,9% so với đầu năm.

Nợ xấu tăng kéo theo dự phòng rủi ro tăng, trong khi NIM mỏng dần đã “ăn mòn” lợi nhuận của nhiều ngân hàng. Chẳng hạn, tại LPBank, tỷ lệ nợ xấu tăng từ 1,68% cuối năm 2025 lên 1,85% vào cuối tháng 6/2026.

Đáng chú ý, Sacombank ước tính tỷ lệ nợ xấu có thể tăng lên khoảng 5,6% tại thời điểm cuối tháng 6/2026. Vì thế, chi phí dự phòng rủi ro trong quý II có thể vượt 4.700 tỷ đồng, thuộc nhóm cao nhất hệ thống.

Chất lượng tài sản, vấn đề cần được quan tâm

Ở quy mô toàn hệ thống, Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến cuối tháng 5/2026, tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 3,43%. Nếu loại trừ 5 ngân hàng thuộc diện xử lý đặc biệt, tỷ lệ này còn khoảng 1,55%. Trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu gộp, bao gồm nợ nội bảng, các khoản nợ đã bán cho VAMC nhưng chưa xử lý và các khoản nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu, ở mức khoảng 3,9%, nếu loại trừ 5 ngân hàng nêu trên còn khoảng 1,74%.

Báo cáo phân tích của Công ty Chứng khoán Shinhan (SSV) cũng cho thấy những tín hiệu cần được theo dõi. Theo đơn vị này, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ngân hàng đã tăng nhẹ trở lại sau đợt xử lý mạnh vào cuối năm 2025 và duy trì quanh mức 1,9% trong quý I/2026. Đáng chú ý hơn, dư nợ nhóm 2 (nhóm nợ cần chú ý) có xu hướng gia tăng, phản ánh dấu hiệu suy giảm bước đầu trong khả năng trả nợ của khách hàng và có thể tạo áp lực lên chất lượng tài sản các quý tiếp theo.

Ông Nguyễn Dương Phương, Trưởng phòng, Trung tâm Phân tích SSV cho rằng, tăng trưởng tín dụng vẫn là động lực chính của lợi nhuận ngành ngân hàng trong năm 2026. Tuy nhiên, trong bối cảnh NIM khó mở rộng, các ngân hàng sẽ tập trung nhiều hơn vào việc tối ưu cơ cấu tài sản, kiểm soát chi phí vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó, thu nhập ngoài lãi sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng. Lợi nhuận của toàn ngành năm 2026 - 2027 được SSV dự báo tăng trưởng 16 - 17%/năm, song tăng trưởng sẽ không đồng đều giữa các ngân hàng.

Nhận định được SSI Research đưa ra, quy mô rủi ro của ngành ngân hàng đã mở rộng hơn so với cuối năm trước nhưng vẫn chưa đến mức tạo ra rủi ro mang tính hệ thống. Theo dự báo của đơn vị này, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ngân hàng vào cuối năm 2026 có thể ở mức 1,8%, nhích lên so với mức 1,76% vào cuối năm 2025, trong khi dư nợ nhóm 2 dự kiến tăng lên khoảng 1,4%.

SSI Research lưu ý về các khoản vay mua nhà được giải ngân trong giai đoạn 2023 - 2024. Sau thời gian ưu đãi lãi suất kéo dài từ 2 - 3 năm, nhiều khoản vay sẽ bước vào giai đoạn áp dụng lãi suất thả nổi. Nếu lãi suất huy động tiếp tục duy trì ở mức cao, áp lực trả nợ của người vay có thể gia tăng trong quý III và quý IV, qua đó ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của một số ngân hàng có tỷ trọng cho vay mua nhà lớn. Bên cạnh đó, nhu cầu tái cấp vốn của các doanh nghiệp bất động sản cũng được đánh giá là yếu tố đáng lưu ý.

Theo SSI Research, dư nợ cho vay với các chủ đầu tư đã tăng thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng kể từ cuối năm 2023. Cùng với đó, khoảng 76.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp (không bao gồm trái phiếu ngân hàng) sẽ đáo hạn trong nửa cuối năm 2026 và thêm khoảng 108.000 tỷ đồng trong năm 2027. Áp lực thanh toán lượng trái phiếu này sẽ phụ thuộc lớn vào diễn biến của thị trường bất động sản cũng như khả năng cải thiện dòng tiền của doanh nghiệp. Công ty chứng khoán này cũng lưu ý việc điều chỉnh quy hoạch tại một số địa phương, nhất là Hà Nội có thể tác động đến giá trị tài sản bảo đảm của các khoản vay bất động sản trong trung hạn. Mặc dù chưa tạo ảnh hưởng ngay đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng, song đây là yếu tố cần được đưa vào kế hoạch quản trị rủi ro, đánh giá lại tài sản bảo đảm, chính sách trích lập dự phòng thời gian tới.

Về chi phí dự phòng, PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC) cho rằng, xu hướng chung trong nửa cuối năm sẽ là tiếp tục duy trì ở mức cao, thậm chí tăng tại nhiều ngân hàng. Sau giai đoạn ưu tiên tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng sẽ phải quay trở lại chiến lược củng cố chất lượng bảng cân đối kế toán. Điều này đồng nghĩa với việc một phần lợi nhuận sẽ được sử dụng để tăng trích lập dự phòng, thay vì ghi nhận vào kết quả kinh doanh.

Tuy nhiên, ông Huân cho rằng, cũng cần nhìn nhận việc tăng trích lập dự phòng trong giai đoạn hiện nay không hẳn là tín hiệu tiêu cực. Đây là bước đi cần thiết để hệ thống ngân hàng xử lý sớm các rủi ro tiềm ẩn, nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc trong tương lai. Bởi rủi ro lớn nhất hiện nay không phải là tỷ lệ nợ xấu đã ghi nhận, mà là khối lượng nợ tiềm ẩn có thể chuyển nhóm trong thời gian tới, đặc biệt ở các lĩnh vực bất động sản, xây dựng, doanh nghiệp phát hành trái phiếu, một số doanh nghiệp xuất khẩu chịu ảnh hưởng bởi biến động kinh tế toàn cầu.

Nửa cuối năm 2026 sẽ là giai đoạn thị trường đánh giá lại chất lượng tài sản của từng ngân hàng, sự phân hóa về lợi nhuận, chất lượng tín dụng cũng như năng lực quản trị rủi ro sẽ ngày càng rõ nét hơn. Để giảm áp lực nợ xấu một cách bền vững, theo các chuyên gia tài chính, cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm, phát triển thị trường mua bán nợ, nâng cao vai trò của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm…

Tin bài liên quan