Độ lệch thanh khoản ngắn hạn và lãi suất
Thị trường tiền tệ những ngày cuối quý III/2026 đang xuất hiện độ lệch đáng chú ý: thanh khoản ngắn hạn cải thiện rõ rệt, nhưng mặt bằng lãi suất cho vay chưa giảm tương ứng.
Theo dữ liệu cập nhật, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng ngày 25/9/2026 ở mức 0,87%/năm và giảm thêm 0,48 điểm phần trăm trong phiên 28/9/2026. Xu hướng này diễn ra trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước có phiên bơm ròng hơn 47.000 tỷ đồng vào ngày 21/9/2026, sau đó là 4 phiên hút ròng liên tiếp với khối lượng thấp. Tính chung 5 phiên, nhà điều hành đã bơm ròng hơn 34.300 tỷ đồng qua kênh thị trường mở.
Thanh khoản ngắn hạn được hỗ trợ, nhưng mặt bằng lãi suất huy động và cho vay lại chưa cho thấy xu hướng giảm tương ứng. Theo VPBankS, lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại trong tháng 8 tăng 0,1 - 0,2%/năm so với tháng trước đó, lên mức 8,4 - 10,7%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên cũng tăng 0,1%/năm, lên khoảng 4%/năm.
Một khoản vay thực tế tại VPBank mà Báo Đầu tư Chứng khoán ghi nhận cũng cho thấy độ trễ giữa diễn biến thanh khoản và lãi suất khách hàng phải trả. Cụ thể, khoản vay bằng VND trị giá 57,5 tỷ đồng, giải ngân ngày 28/8/2026, đang áp dụng lãi suất 10,6%/năm nhưng từ ngày 28/9/2026, lãi suất điều chỉnh lên 15,3%/năm.
Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Phương, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, muốn lý giải diễn biến này, cần tách thanh khoản trong vài ngày khỏi khả năng huy động vốn ổn định cho nhiều tháng, nhiều năm. Ông Phương cho biết, ngày 29/9/2026, lãi suất vay mượn VND qua đêm giữa các ngân hàng giảm xuống 0,2%/năm, nhưng lãi suất kỳ hạn 1 tuần và 1 tháng vẫn lần lượt ở mức 6,5% và 6,3%/năm. Tiền ngắn hạn có thể đang dồi dào, nhưng điều đó không có nghĩa nguồn vốn có kỳ hạn phù hợp để cho vay cũng rẻ đi.
Khoảng cách giữa các kỳ hạn này là một điểm đáng chú ý của thị trường tiền tệ hiện nay. Ngân hàng có thể tiếp cận nguồn vốn với chi phí rất thấp trong một ngày hoặc vài ngày, nhưng nguồn vốn đó không thể thay thế hoàn toàn tiền gửi ổn định để đáp ứng các khoản tín dụng có kỳ hạn dài hơn. Nói cách khác, thanh khoản tốt không đồng nghĩa chi phí vốn bình quân đã giảm.
Số liệu thống kê cho biết, đến ngày 28/9/2026, dư nợ tín dụng đạt 20.619.162 tỷ đồng, tăng 10,89% từ đầu năm; huy động vốn đạt 19.390.133 tỷ đồng, tăng 9,78%. Tính từ đầu năm, tín dụng tăng nhanh hơn huy động 1,11 điểm phần trăm. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn riêng tháng 9, áp lực trước mắt có dấu hiệu dịu hơn khi huy động vốn tăng 1,51%, cao hơn mức tăng 0,58% của tín dụng.
“Đây là tín hiệu giảm áp lực trước mắt, nhưng chưa đủ để kết luận quan hệ cung - cầu vốn đã đảo chiều. Cũng không nên lấy chênh lệch giữa số dư tín dụng và huy động vốn để gọi là thiếu hụt vốn, bởi bảng cân đối ngân hàng còn nhiều nguồn và khoản mục khác”, ông Phương nói.
Điểm đáng quan tâm hơn là nền kinh tế vẫn có nhu cầu tín dụng và vốn kỳ hạn dài, trong khi các ngân hàng phải cạnh tranh để duy trì nguồn tiền gửi ổn định. Theo VPBankS, tiền gửi thanh toán của cá nhân cuối quý II/2026 giảm gần 10% so với cùng kỳ, số dư khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, giảm 130.000 tỷ đồng. Tiền gửi không kỳ hạn tại VCB, BID, CTG, MBB và Agribank cuối quý II cũng giảm từ 1 - 6% so với cuối năm 2025 trong bối cảnh lãi suất huy động tiếp tục tăng ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Như vậy, câu chuyện lãi suất không chỉ xoay quanh vấn đề thanh khoản, mà đã chuyển sang một bài toán rộng hơn: nguồn vốn nào đang sẵn có, với kỳ hạn và chi phí ra sao để đáp ứng nhu cầu tín dụng?
Ba biến số chính với lãi suất cuối năm
Nếu tiền gửi tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ trong nhiều tháng và kỳ hạn huy động được cải thiện, áp lực lãi suất sẽ dịu đi.
PGS.TS. Nguyễn Văn Phương,Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Theo PGS. TS. Nguyễn Văn Phương, lãi suất huy động có khả năng chịu tác động trước tiên, nhất là tại những ngân hàng cần giữ tiền gửi kỳ hạn dài, sau đó, áp lực có thể chuyển sang biên lợi nhuận. Ngân hàng có thể tạm thời chấp nhận giá vốn tăng mà chưa nâng ngay lãi suất cho vay, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh khách hàng và tín dụng.
“Nhưng khả năng chịu đựng ấy không vô hạn. Nếu chi phí huy động neo cao qua nhiều kỳ, khoản vay mới hoặc khoản vay lãi suất thả nổi sẽ chịu sức ép. Một số khách hàng có thể gặp điều kiện vay chặt hơn, thay vì chỉ thấy giá vay tăng. Tác động rõ nhất trong những tháng cuối năm sẽ nằm ở sự phân hóa”, ông Phương nhận định.
Cũng theo ông Phương, những ngân hàng có nguồn tiền gửi ổn định và khách hàng rủi ro thấp sẽ có nhiều dư địa hơn để duy trì mặt bằng lãi vay ổn định. Ngược lại, những ngân hàng phải liên tục trả giá cao để hút vốn sẽ chịu áp lực lớn hơn. Vì vậy, cần theo dõi lãi suất cho vay thực trả và khả năng tiếp cận tín dụng của từng ngân hàng, thay vì chỉ nhìn bảng lãi suất niêm yết.
Sự phân hóa này cũng cho thấy không thể nhìn mặt bằng lãi suất chỉ qua một con số bình quân của toàn hệ thống. Cùng một môi trường thanh khoản, chi phí vốn và khả năng định giá tín dụng của từng ngân hàng có thể khác nhau, tùy thuộc cơ cấu nguồn vốn và chất lượng khách hàng.
Nhận định về xu hướng lãi suất, PGS.TS. Nguyễn Văn Phương cho rằng, từ nay đến cuối năm, có ba biến số có khả năng tạo ra bước ngoặt đối với mặt bằng lãi suất.
Thứ nhất, tốc độ huy động so với tín dụng. Nếu tiền gửi tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ trong nhiều tháng và kỳ hạn huy động được cải thiện, áp lực lãi suất sẽ dịu đi. Còn nếu tín dụng bứt tốc trở lại, cạnh tranh tiền gửi có thể nóng lên.
Thứ hai, tỷ giá và chính sách của Ngân hàng Trung ương Mỹ. Nếu USD bớt mạnh, tỷ giá ổn định sẽ mở thêm dư địa điều tiết thanh khoản VND. Ngược lại, Fed tiếp tục tăng lãi suất hoặc áp lực tỷ giá kéo dài sẽ khiến việc giảm lãi suất khó hơn, dù thanh khoản qua đêm vẫn tốt.
Thứ ba, chất lượng tín dụng. Dòng vốn đi vào dự án có dòng tiền và khả năng trả nợ rõ ràng sẽ giúp ngân hàng định giá khoản vay hợp lý hơn. Nếu rủi ro nợ xấu tăng, phần bù rủi ro có thể giữ lãi vay ở mức cao ngay cả khi chi phí huy động hạ.
Nhìn từ ba biến số này, câu chuyện lãi suất cuối năm không đơn thuần là thanh khoản đang thừa hay thiếu. Tiền qua đêm có thể rất rẻ, nhưng nguồn vốn dài hạn chưa chắc rẻ theo. Huy động có thể tăng nhanh hơn tín dụng trong một tháng, nhưng chưa đủ để khẳng định một xu hướng mới. Ngay cả khi chi phí vốn giảm, lãi suất cho vay vẫn còn phụ thuộc vào rủi ro của từng khoản tín dụng.
“Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ phù hợp trong những tháng cuối năm không phải là ép mặt bằng lãi suất đi xuống, mà là giữ ổn định tỷ giá, cải thiện nguồn vốn dài hạn và dẫn tín dụng đến nơi sử dụng vốn hiệu quả”, PGS. TS. Nguyễn Văn Phương nêu quan điểm.