Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn trình bày Báo cáo tiếp thu chỉnh lý dự thảo 1 luật sửa 3 luật về tài chính ngân hàng chiều 24/8.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn trình bày Báo cáo tiếp thu chỉnh lý dự thảo 1 luật sửa 3 luật về tài chính ngân hàng chiều 24/8.

Chính thức bổ sung "dịch vụ tài sản mã hóa" vào nhóm đối tượng giám sát rửa tiền

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Một luật sửa 3 luật về tài chính ngân hàng vừa được Quốc hội thông qua đã chính thức bổ sung "dịch vụ tài sản mã hóa" vào nhóm đối tượng giám sát rửa tiền; đồng thời luật hoá luật hóa 15 dấu hiệu đáng ngờ về rửa tiền với tài sản mã hóa.

Chiều 24/8, tiếp chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất - Quốc hội khóa XVI, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng (1 luật sửa 3 luật về tài chính ngân hàng).

Kết quả biểu quyết điện tử cho thấy, có 473/476 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 94,60%).

Trước đó, Quốc hội nghe Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật.

Đối với Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thống đốc cho biết, trên cơ sở ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ tiếp thu, chỉnh lý như sau: bổ sung thêm tại khoản 3 Điều 59 Luật Ngân hàng Nhà nước (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 10 Điều 1 dự thảo Luật) quy định: “Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm thanh tra, giám sát các đối tượng thanh tra, giám sát quy định tại khoản này theo quy định của pháp luật”.

Quy định này nhằm xác định rõ các tổ chức tín dụng được áp dụng tỷ lệ an toàn khác theo quy định tại khoản 3 Điều 59 Luật Ngân hàng Nhà nước phải chịu sự thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại Luật Ngân hàng Nhà nước và pháp luật có liên quan.

Đối với Luật Phòng, chống rửa tiền, Thống đốc Phạm Đức Ấn cho biết, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, để làm rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành khác, thống nhất với quy định về trách nhiệm Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ...và nguyên tắc thanh tra, kiểm tra, giám sát về phòng, chống rửa tiền trên cơ sở kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền, dự thảo Luật điều chỉnh khoản 18 Điều 2 (sửa đổi bổ sung khoản 2 Điều 59 Luật Phòng, chống rửa tiền).

Bên cạnh đó, theo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã rà soát, chỉnh lý kỹ thuật đối với các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hoá tại Điều 33a của Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm giúp ngôn ngữ trong sáng, rõ ràng hơn, đảm bảo thống nhất trong quá trình triển khai thực hiện.

Về Luật Các tổ chức tín dụng, Báo cáo của Chính phủ nêu rõ, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ sẽ chỉ đạo các cơ quan có liên quan nghiên cứu, hoàn thiện quy định về quyền, trách nhiệm, điều kiện, tiêu chí và nội dung hoạt động đại lý quản lý tài sản đảm bảo tại các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và doanh nghiệp đối với việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Quy định này nhằm đảm bảo khi các ngân hàng thương mại triển khai hoạt động này sẽ không xảy ra tình trạng gây nhầm lẫn cho khách hàng, tránh xung đột lợi ích và kiểm soát tốt rủi ro.

Quốc hội đồng thuận thông qua 1 luật sửa đổi 3 luật về tài chính ngân hàng chiều 24/8

Quốc hội đồng thuận thông qua 1 luật sửa đổi 3 luật về tài chính ngân hàng chiều 24/8

15 dấu hiệu đáng ngờ về phòng chống rửa tiền trong lĩnh vực tài sản mã hóa

Nội dung mới đáng chú ý nhất của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng là bổ sung "dịch vụ tài sản mã hóa" vào nhóm đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống rửa tiền.

Đồng thời, Điều 33a của dự thảo Luật bổ sung quy định riêng về 15 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực này như sau:

(1) Chia nhỏ giao dịch tài sản mã hóa thành nhiều khoản có giá trị thấp hơn mức quy định về nhận biết khách hàng hoặc về báo cáo theo quy định hoặc thực hiện nhiều giao dịch tài sản mã hóa giá trị lớn trong thời gian ngắn mà không có mục đích kinh doanh rõ ràng.

(2) Phát sinh một trong các trường hợp sau đây mà không phù hợp với hồ sơ và đặc điểm của khách hàng: nạp, giao dịch và rút tài sản mã hóa liên tiếp trong thời gian rất ngắn ngay sau khi thiết lập quan hệ khách hàng, nạp lần đầu với giá trị lớn ngay sau khi mở tài khoản tài sản mã hóa hoặc tài khoản tài sản mã hóa không hoạt động trong thời gian dài phát sinh giao dịch có giá trị lớn hoặc tần suất bất thường.

(3) Chuyển ngay tài sản mã hóa tới nhiều tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa tại quốc gia, vùng lãnh thổ nằm trong danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố nhằm chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc tại quốc gia, vùng lãnh thổ chưa ban hành hoặc ban hành chưa đầy đủ khung pháp lý về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt đối với tài sản mã hóa và tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa nằm trong danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố liên quan đến tài sản mã hóa trong khi không có mối liên hệ hợp lý với nơi cư trú hoặc địa điểm hoạt động của khách hàng.

(4) Chuyển đổi tài sản mã hóa sang nhiều loại tài sản mã hóa khác nhau mà không có mục đích kinh doanh, đầu tư hợp lý hoặc chuyển đổi tài sản mã hóa sang tiền pháp định trong điều kiện bất lợi về giá, chấp nhận thua lỗ hoặc chịu mức phí giao dịch cao bất thường so với tình trạng mạng lưới chuỗi khối tại thời điểm giao dịch.

(5) Nhiều tài khoản hoặc nhiều địa chỉ ví không có mối liên hệ rõ ràng cùng chuyển tài sản mã hóa về cùng một địa chỉ ví hoặc một tài khoản chuyển tài sản mã hóa tới nhiều địa chỉ ví khác nhau với giá trị tương đương nhau liên tiếp trong thời gian ngắn.

(6) Thực hiện giao dịch tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, dịch vụ trộn giao dịch hoặc thực hiện nhiều lần chuyển đổi từ tài sản mã hóa trên sổ cái phân tán công khai, minh bạch sang tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, làm gián đoạn khả năng truy vết giao dịch.

(7) Giao dịch tài sản mã hóa từ các địa chỉ ví hoặc các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa đã được cơ quan có thẩm quyền xác định hoặc cảnh báo có liên quan đến trang mạng ẩn danh giao dịch hàng hóa, dịch vụ bất pháp, hoạt động tống tiền, lừa đảo, cờ bạc trực tuyến bất hợp pháp, tài sản bị đánh cắp hoặc hoạt động phạm tội khác.

(8) Khách hàng truy cập nền tảng của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa qua công cụ cho phép ẩn danh danh tính hoặc ẩn danh địa chỉ giao thức Internet hoặc nhiều tài khoản tài sản mã hóa đứng tên các danh tính khác nhau nhưng có dấu hiệu được vận hành từ cùng một thiết bị hoặc địa chỉ giao thức Internet.

(9) Khách hàng từ chối, trì hoãn cung cấp tài liệu nhận biết khách hàng hoặc thông tin về nguồn gốc tài sản; cung cấp tài liệu có dấu hiệu giả mạo hoặc thông tin không nhất quán hoặc không thể giải thích hợp lý về mục đích giao dịch, nguồn gốc tài sản và mối quan hệ với bên đối tác.

(10) Địa chỉ ví tài sản mã hóa của khách hàng xuất hiện trên các nguồn thông tin công khai có liên quan đến hoạt động bất hợp pháp hoặc tài sản mã hóa nạp, rút có lịch sử qua các cầu nối liên chuỗi được đánh giá có rủi ro cao.

(11) Khách hàng có dấu hiệu đứng tên hộ, bị lợi dụng làm trung gian hoặc là nạn nhân của lừa đảo, bao gồm cả trường hợp khách hàng có hiểu biết hạn chế về tài sản mã hóa nhưng thực hiện giao dịch với tần suất và giá trị lớn không tương xứng với hồ sơ và đặc điểm của khách hàng hoặc thực hiện giao dịch theo chỉ dẫn của bên thứ ba.

(12) Nguồn tài sản của khách hàng chủ yếu hình thành từ các đợt phát hành tài sản mã hóa lần đầu thiếu minh bạch hoặc có dấu hiệu gian lận hoặc tài sản mã hóa của khách hàng có nguồn gốc trực tiếp từ các dịch vụ trộn giao dịch hoặc từ các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa thiếu kiểm soát về phòng, chống rửa tiền.

(13) Giao dịch với tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa không xác định được tư cách pháp lý hợp lệ, bao gồm trường hợp hoạt động tại quốc gia, vùng lãnh thổ chưa có khung pháp lý về tài sản mã hóa theo danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố liên quan đến tài sản mã hóa hoặc không có trong danh sách được cấp phép của cơ quan quản lý có thẩm quyền nước sở tại hoặc đã bị cơ quan có thẩm quyền cảnh báo, đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép hoạt động.

(14) Nội dung ghi chú kèm theo giao dịch tài sản mã hóa có dấu hiệu liên quan đến hoạt động bất hợp pháp hoặc khách hàng thường xuyên thay đổi các thông tin nhận dạng và xác thực quan trọng không phù hợp với hành vi sử dụng thông thường hoặc thực hiện giao dịch từ địa chỉ giao thức Internet không nhất quán với thông tin khách hàng đã cung cấp hoặc nhiều lần mở tài khoản tài sản mã hóa từ cùng một địa chỉ giao thức Internet.

(15) Khách hàng thực hiện giao dịch thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa có trụ sở hoặc hoạt động tại quốc gia, vùng lãnh thổ nằm trong danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố nhằm chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc tại quốc gia, vùng lãnh thổ chưa ban hành hoặc ban hành chưa đầy đủ khung pháp lý về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt đối với tài sản mã hóa và tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa nằm trong danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố liên quan đến tài sản mã hóa.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng gồm 04 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 12 năm 2026.

Tin bài liên quan