Mới đây, Nam A Bank niêm yết lãi suất cho vay giảm tối đa 0,7%/năm với khách hàng cá nhân

Mới đây, Nam A Bank niêm yết lãi suất cho vay giảm tối đa 0,7%/năm với khách hàng cá nhân

Mặt bằng lãi suất hạ nhiệt

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Theo yêu cầu của nhà điều hành, các nhà băng đồng loạt giảm nhẹ mặt bằng lãi suất tiết kiệm và cho vay.

Lãi suất huy động điều chỉnh nhẹ

Tại Nam A Bank, lãi suất tiết kiệm với khách hàng cá nhân giảm 0,05%/năm đối với các kỳ hạn từ 2 - 5 tháng, xuống 4,7%/năm. Kỳ hạn 18 tháng, lãi suất giảm 0,1%/năm xuống 6,8%/năm và kỳ hạn 36 tháng ghi nhận mức giảm lớn nhất là 0,3%/năm, xuống 6,6%/năm. Trong khi đó, ngân hàng này giữ nguyên lãi suất kỳ hạn 6 tháng, 12 tháng.

VCBNeo giảm lãi suất tiết kiệm với mức cao nhất chỉ còn là 7%/năm, áp dụng cho kỳ hạn từ 12 - 60 tháng, thay vì mức 7,8%/năm trước đó.

Trước đó, theo công bố của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãi suất tiền gửi bình quân tháng 7 của hệ thống ngân hàng nhích lên ở tất cả kỳ hạn, trừ dưới 1 tháng. So với đầu năm, mặt bằng lãi suất huy động tăng khoảng 1,5%/năm. Đối với kỳ hạn từ 6 - 12 tháng, lãi suất cao nhất là 7,8%/năm, tăng 0,2%/năm và nối dài mạch tăng 10 tháng liên tiếp. Các khoản tiền gửi trên 24 tháng được trả lãi đến 7,9%/năm.

Đáng chú ý, một số ngân hàng tư nhân như NCB, MBV, Vikki... thực tế áp dụng lãi suất huy động 8,5 - 9,2%/năm cho kỳ hạn 6 tháng. Lãi suất theo diện thỏa thuận còn cao hơn, lên đến 9,5%/năm, tùy thuộc nhiều yếu tố như số tiền gửi, kỳ hạn, khả năng thương thảo với nhà băng.

Mặt bằng lãi suất tiết kiệm neo cao suốt thời gian qua đã thu hút một lượng tiền nhàn rỗi lớn từ dân cư chảy vào hệ thống ngân hàng. Theo số liệu mới nhất của NHNN, đến cuối tháng 6/2026, tiền gửi của người dân tại các ngân hàng đạt hơn 11 triệu tỷ đồng, cao nhất từ trước tới nay. So với cuối năm 2025, con số này tăng khoảng 733.000 tỷ đồng, tương đương mức tăng 7,1%.

Gửi tiết kiệm ngân hàng trở thành lựa chọn của nhiều người khi mặt bằng lãi suất neo ở vùng hấp dẫn. Thậm chí, một bộ phận người dân có thể xem tiền gửi như một cách tạm thời giữ tài sản, chờ thời điểm thuận lợi hơn để quay trở lại các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản hoặc vàng.

Tại buổi làm việc với NHNN và các tổ chức tín dụng mới đây, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã yêu cầu các ngân hàng tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng lãi suất và giảm thực chất lãi vay, qua đó, chia sẻ khó khăn với người dân, doanh nghiệp. Một số ngân hàng như Agribank, SHB, Sacombank, LPBank, BVBank... đã công bố các gói tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp hơn từ 1 - 2%/năm so với các khoản vay thông thường.

Theo ông Lê Anh Tuấn, Tổng giám đốc Dragon Capital, trong bối cảnh nhu cầu tín dụng lớn, cộng thêm chênh lệch ngày càng rộng giữa cho vay và huy động, kịch bản lãi suất đột ngột điều chỉnh mạnh khó xảy ra, mà khả năng cao sẽ giảm chậm.

Theo dự báo của ông Tuấn, lãi suất huy động thời gian tới “khó lên mặt bằng cao mới” bởi NHNN có nhiều động thái hỗ trợ thanh khoản. Cụ thể, cơ quan này đã bơm qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) có lúc hơn 18,6 tỷ USD. Đây là việc nhà điều hành mua lại giấy tờ có giá từ các ngân hàng thương mại để điều tiết thanh khoản và ổn định lãi suất thị trường liên ngân hàng. Nhà điều hành cũng giao dịch hoán đổi ngoại tệ (FX swap) để cung ứng cho hệ thống khoảng 3 tỷ USD.

Bên cạnh đó, NHNN còn nhiều biện pháp gián tiếp như nới lỏng cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), tăng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và chỉ đạo hạ nhiệt lãi suất. Lãi suất cho vay và lãi suất tiết kiệm cùng hạ nhiệt trong những ngày qua khi các ngân hàng hưởng ứng chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đồng quan điểm, ông Đàm Thế Thái, Phó tổng giám đốc HDBank cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động hiện đã xuất hiện các dấu hiệu hạ nhiệt và bắt đầu thiết lập trạng thái ổn định mới.

Lãi suất cho vay khó giảm sâu

Sau chỉ đạo của nhà điều hành, mặt bằng lãi suất cho vay cũng ghi nhận những điều chỉnh tích cực. Tại 4 ngân hàng thương mại nhà nước hàng đầu gồm Vietcombank, Agribank, BIDV, VietinBank (nhóm Big4), các khoản vay được giải ngân với lãi suất bình quân 6,1 - 8,5%/năm.

Sau Big 4, các ngân hàng tư nhân đã vào cuộc giảm lãi suất cho vay theo lời kêu gọi của NHNN. Nam A Bank, điều chỉnh giảm biểu lãi suất niêm yết tối đa 0,5%/năm cho doanh nghiệp và 0,5 - 0,7%/năm cho khách hàng cá nhân. BVBank triển khai gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) với tổng hạn mức 2.500 tỷ đồng, lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mặt bằng chung.

Các nhà băng tư nhân như HDBank, SeABank, ACB áp dụng lãi suất cho vay từ 9,28 - 10,4%/năm cho các khoản vay trung dài hạn.

Ông Lê Anh Tuấn, Tổng giám đốc Dragon Capital dự báo, diễn biến lãi suất thời gian tới sẽ ổn định hơn, không tăng cao hay giảm mạnh đột ngột.

Theo ông Tuấn, mặt bằng lãi suất tiết kiệm hiện tăng khá cao, trong đó kỳ hạn 6 và 12 tháng đạt mức 9,5%/năm, còn bình quân toàn hệ thống là 7%/năm. Với kỳ hạn 12 tháng, lãi suất dao động từ 9 - 9,2%/năm, trong khi đầu năm nay chỉ 6%/năm. Nhiều ngân hàng có tình trạng chênh lệch giữa bảng lãi suất niêm yết công khai và thực tế huy động.

Đáng chú ý, khi huy động vốn của hệ thống các tổ chức tín dụng vẫn hụt hơn 2 triệu tỷ đồng so với cho vay ra, giới phân tích cho rằng, việc cố gắng giảm lãi suất (cả tiết kiệm, cho vay) của các nhà băng sau lời kêu gọi của NHNN là tích cực, nhưng nhìn chung sẽ khó giảm mạnh.

Lãi suất cho vay khó giảm sâu nên NHNN cần phải tiếp tục sử dụng nhiều công cụ, chính sách khác linh hoạt để hỗ trợ nguồn vốn chi phí thấp cho các nhà băng. NHNN phải xem xét có một khoản tín dụng để cho vay đối với SME mà tài sản đảm bảo được mở rộng hơn nữa như được vay theo thế chấp đơn hàng, hợp đồng…, từ đó, mới khuyến khích được ngân hàng mở rộng điều kiện cho vay với SME.

Từ góc nhìn của bà Phạm Liên Hà, Giám đốc Nghiên cứu Cao cấp ngành Dịch vụ Tài chính, Công ty Chứng khoán HSC, NHNN đang có những động thái chính sách hỗ trợ nguồn vốn cho nền kinh tế.

Cụ thể, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được phép sử dụng cho vay trung và dài hạn đã được nâng trần lên mức 40%; đồng thời, cơ quan quản lý cũng cho phép tính 50% tiền gửi của Kho bạc Nhà nước vào tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (LDR).

Mặc dù các biện pháp kỹ thuật này đã giúp lãi suất trên thị trường liên ngân hàng hạ nhiệt phần nào, nhưng thực tế tình trạng căng thẳng thanh khoản cục bộ vẫn hiện hữu do tốc độ tăng trưởng tín dụng tiếp tục bỏ xa đà huy động vốn.

Việc tỷ lệ LDR của toàn hệ thống bị đẩy lên mức cao quanh ngưỡng 115% và khoảng cách giữa dư nợ tín dụng với tiền gửi tiếp tục mở rộng đã lý giải vì sao cuộc cạnh tranh giữa các nhà băng thu hút nguồn vốn trên thị trường dân cư vẫn diễn ra gay gắt. Mặc dù mặt bằng lãi suất niêm yết xoay quanh mức 6%/năm, song lãi suất thực kỳ hạn 12 tháng tại các ngân hàng quốc doanh đã lên tới 8%/năm, thậm chí có ngân hàng tư nhân đã vượt mức 9%/năm.

Chi phí huy động đầu vào tăng mạnh tạo áp lực lớn đối với biên lãi ròng (NIM) của toàn hệ thống. Tỷ lệ LDR neo cao khiến dư địa mở rộng biên độ NIM gần như cạn kiệt, chưa kể đến việc các ngân hàng còn phải gánh vác trách nhiệm chia sẻ khó khăn với nền kinh tế thông qua định hướng tiếp tục cắt giảm lãi suất cho vay.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ghi nhận đà bứt tốc trong quý II và khả năng còn tăng mạnh trong nửa cuối năm nay khi vào mùa cao điểm cầu vốn. Tuy nhiên, chất lượng tài sản lại đang bộc lộ những rủi ro dưới sức ép của mặt bằng lãi suất cao.

Dù tỷ lệ nợ xấu chính thức toàn hệ thống tạm giữ ổn định quanh ngưỡng 2%, nhưng phần chìm của tảng băng lại nằm ở sự gia tăng nhanh của quy mô nợ cần chú ý (nợ nhóm 2) và tốc độ hình thành nợ xấu mới. Điều này phản ánh việc chi phí vay vốn neo cao đang bào mòn sức chịu đựng của khách hàng.

Tin bài liên quan