Việt Nam đang tiến tới làm chủ công nghệ sản xuất kết cấu đường ray phục vụ đường sắt tốc độ cao
Bước tiến quan trọng
Bộ Khoa học và Công nghệ vừa hoàn thành Báo cáo thẩm định và gửi Bộ Xây dựng đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ "Nghiên cứu phát triển các kết cấu đường ray cho đường sắt tốc độ cao Việt Nam". Đây là một trong những bước đi đầu tiên trong lộ trình nghiên cứu, làm chủ công nghệ sản xuất kết cấu đường ray phục vụ đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam.
Theo đó, tại phiên họp ngày 29/6/2026, Hội đồng Thẩm định đã thống nhất thông qua hồ sơ đề xuất nhiệm vụ, đồng thời đề nghị Bộ Xây dựng tiếp thu, giải trình và hoàn thiện hồ sơ theo ý kiến của Hội đồng.
Tuy nhiên, ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 260/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Công nghệ cao, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Nghị định đã bổ sung, hoàn thiện các tiêu chí đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, gồm mức độ làm chủ công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, phương án thương mại hóa, huy động nguồn lực và các tiêu chí liên quan khác.
Đồng thời, theo quy định chuyển tiếp của Nghị định số 260/2026/NĐ-CP, các nhiệm vụ đang trong quá trình xây dựng, thẩm định hoặc phê duyệt tiếp tục được thực hiện theo quy định của Nghị định này và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Trên cơ sở đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị Bộ Xây dựng rà soát, bổ sung hồ sơ nhằm làm rõ việc đáp ứng các tiêu chí của nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược theo Nghị định số 260/2026/NĐ-CP, đặc biệt là các nội dung mới được bổ sung như tỷ lệ nội địa hóa, mức độ làm chủ công nghệ, phương án thương mại hóa, các chỉ tiêu đánh giá và những tiêu chí liên quan.
"Trên cơ sở hồ sơ đã được hoàn thiện, Bộ Xây dựng thực hiện phê duyệt nhiệm vụ theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm bảo đảm nhiệm vụ đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chí theo quy định của Nghị định số 260/2026/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liên quan", đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ lưu ý.
Trong số các lưu ý quan trọng, Bộ Khoa học và Công nghệ yêu cầu Bộ Xây dựng làm rõ các thông số kỹ thuật của sản phẩm đầu ra, quy trình công nghệ và các yêu cầu kỹ thuật đối với đường ray. Sản phẩm nghiên cứu phải đáp ứng điều kiện khai thác thực tế tại Việt Nam, xác định rõ tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu và có ít nhất một đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Bên cạnh đó, hồ sơ cần lượng hóa cụ thể tác động kinh tế - xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh của nhiệm vụ; làm rõ khả năng thương mại hóa, phạm vi ứng dụng sau khi hoàn thành giai đoạn sản phẩm mẫu cũng như các "bài toán lớn" cần giải quyết và địa chỉ ứng dụng cụ thể.
Hội đồng cũng yêu cầu sản phẩm nghiên cứu phải bảo đảm tính thực tiễn, có khả năng thay thế hàng nhập khẩu, hướng tới xuất khẩu và dự báo chi tiết các tác động gián tiếp, đặc biệt là khả năng lưỡng dụng, phục vụ đồng thời mục tiêu phát triển kinh tế và quốc phòng - an ninh.
Về cơ chế thực hiện, Bộ Khoa học và Công nghệ lưu ý đơn vị triển khai nhiệm vụ cần bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp, tránh thất thoát, lãng phí ngân sách; xây dựng cơ chế phối hợp đồng bộ với nhiệm vụ số 1 để bảo đảm tính hệ thống; đồng thời ban hành cơ chế khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp tư nhân đầu tư, đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ sinh thái công nghệ đường sắt.
Cùng với đó là áp dụng cơ chế tài chính đặc thù gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ cao.
"Việc Hội đồng Thẩm định thống nhất thông qua hồ sơ đề xuất nhiệm vụ cho thấy định hướng nghiên cứu đã nhận được sự đồng thuận về mặt chuyên môn. Đây được xem là dấu mốc quan trọng, đánh dấu việc hồ sơ đã hoàn tất bước thẩm định chuyên môn, tạo cơ sở để Bộ Xây dựng tiếp tục hoàn thiện và phê duyệt nhiệm vụ theo thẩm quyền, hướng tới từng bước làm chủ công nghệ sản xuất kết cấu đường ray phục vụ đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam", một lãnh đạo Cục Đường sắt Việt Nam đánh giá.
Xây nền tảng khoa học
Được biết, "Nghiên cứu phát triển các kết cấu đường ray cho đường sắt tốc độ cao Việt Nam" là một trong 8 nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển công nghệ chiến lược trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
"Trong bối cảnh chuẩn bị triển khai các dự án đường sắt quy mô lớn, việc xác định các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược có ý nghĩa trực tiếp đối với việc nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, phát triển công nghiệp đường sắt, giảm rủi ro chuỗi cung ứng, tạo năng lực thử nghiệm, kiểm định trong nước và thúc đẩy hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học trong lĩnh vực đường sắt", Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết.
Trong 8 nhiệm vụ này, nghiên cứu phát triển kết cấu đường ray được đánh giá có ý nghĩa nền tảng, không chỉ phục vụ xây dựng và vận hành tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, mà còn tạo động lực phát triển ngành luyện kim, công nghiệp đường sắt và chuỗi cung ứng vật liệu, thiết bị trong nước.
Theo hồ sơ thuyết minh nhiệm vụ, Bộ Xây dựng cho rằng, việc làm chủ công nghệ kết cấu đường ray có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị triển khai đồng loạt các dự án đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao - những lĩnh vực có nhu cầu rất lớn về ray và phụ kiện với yêu cầu khắt khe về vật liệu, cơ tính và độ bền khai thác.
Chỉ tính riêng Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đã tạo ra một thị trường vật tư đường sắt có quy mô rất lớn. Với chiều dài tuyến khoảng 1.541 km, đầu tư theo tiêu chuẩn đường đôi, tổng nhu cầu ray có thể đạt khoảng 6.164 km, tương đương 380.000 - 400.000 tấn thép ray. Đây được xem là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đầu tư đón đầu vào lĩnh vực công nghiệp đường sắt.
Điểm mới của nhiệm vụ là việc Bộ Xây dựng sẽ nghiên cứu đồng bộ từ tiêu chuẩn mác thép, quy trình sản xuất ray và phụ kiện đến công nghệ kiểm tra không phá hủy, thử nghiệm, đánh giá chất lượng nhằm từng bước nội địa hóa các vật tư chiến lược của ngành đường sắt.
Điều này sẽ góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, phát triển ngành luyện kim, cơ khí chế tạo và công nghiệp đường sắt trong nước, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài.
Bộ Xây dựng đánh giá nhiệm vụ có tính khả thi khi Việt Nam đã hình thành nền tảng nghiên cứu và năng lực công nghiệp trong các lĩnh vực khoa học vật liệu, luyện kim và cơ khí chế tạo. Đặc biệt, Viện Công nghệ thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã làm chủ nhiều công nghệ chế tạo vật liệu kim loại, thép đặc chủng phục vụ các trang thiết bị có yêu cầu kỹ thuật rất cao.
Trong khi đó, Công ty cổ phần Ray và Thép đặc biệt Hòa Phát Dung Quất đã đầu tư dây chuyền sản xuất ray đường sắt tốc độ cao nhập khẩu từ Đức và hình thành hệ thống phòng thí nghiệm với 16 phép thử chủ chốt phục vụ nghiên cứu, chế tạo ray và phụ kiện đường sắt tốc độ cao.
"Với năng lực luyện kim, cán thép, hệ thống thiết bị từ nấu luyện đến gia công sản phẩm cùng việc hợp tác với các đối tác quốc tế có kinh nghiệm sản xuất thép ray, Hòa Phát cơ bản đáp ứng các điều kiện cần thiết để tham gia triển khai nhiệm vụ khi được giao", đại diện Bộ Xây dựng đánh giá.
8 nhiệm vụ công nghệ chiến lược trong lĩnh vực đường sắt
1. Nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất ray, phụ kiện, bộ ghi cho đường sắt đô thị và ray, phụ kiện đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam.
2. Nghiên cứu phát triển các kết cấu đường ray cho đường sắt tốc độ cao Việt Nam.
3. Nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ vật liệu, xử lý đất yếu nền đường và vùng chuyển tiếp công trình.
4. Nghiên cứu, phát triển mạng 5G chuyên dụng cho đường sắt tốc độ cao.
5. Nghiên cứu phát triển hệ thống liên khóa máy tính (CBI) phục vụ điều khiển chạy tàu đường sắt quốc gia, định hướng mở rộng cho đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao.
6. Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các chi tiết và cụm chi tiết cốt lõi của phương tiện đường sắt.
7. Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo toa xe công vụ đạt cấp chống đạn cấp 2 theo tiêu chuẩn STANAG 4569.
8. Xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm, thử nghiệm trọng điểm quốc gia về đường sắt.